top of page
Banner edge
DIỄN ĐÀN 3.png
DIỄN ĐÀN 2.png
DIỄN ĐÀN 1.png

DIỄN ĐÀN

TÂM TÌNH

TRẦN KINH NGHỊ

Viện  Nghiên Cứu Xã Hội Học Hoa Kỳ (American Institute for Social Research)  sau khi nghiên cứu đã nói lên 10 đặc tính căn bản của người Việt, xin  tạm dịch như sau:


1. Cần cù lao động nhưng dễ thỏa mãn.


2. Thông minh, sáng tạo khi phải đối phó với những khó khăn ngắn hạn, nhưng thiếu những khả năng suy tư dài hạn và linh hoạt.


3.-Khéo léo nhưng ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng các thành phẩm của mình.


4. Vừa thực tế vừa có lý tưởng, nhưng lại không phát huy được xu hướng nào thành những nguyên lý.


5. Yêu  thích kiến thức và hiểu biết nhanh, nhưng ít khi học sự việc từ đầu đến  cuối, nên kiến thức không có hệ thống hay căn bản. Ngoài ra, người Việt  không học vì lợi ích của kiến thức (lúc nhỏ học vì gia đình, lớn lên học  vì sĩ diện hay vì những công việc tốt).


[when small, they study because of their families; growing up, they study for the sake of prestige or good jobs]


6. Cởi mở và hiếu khách nhưng sự hiếu khách của họ không kéo dài.


7. Tiết  kiệm, nhưng nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô nghĩa (vì sĩ diện  hay muốn phô trương). [to save face or to show off].


8. Có  tinh thần đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau chủ yếu trong những tình huống  khó khăn và nghèo đói, còn trong điều kiện tốt hơn, đặc tính này ít khi  có.


9. Yêu  hòa bình và có thể chịu đựng mọi thứ, nhưng thường không thẳng thắn vì  những lý do lặt vặt, vì thế hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích  của những mục tiêu nhỏ.


10. Và  sau cùng, thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh (một người có  thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 2 người làm thì kém, 3 người làm  thì hỏng việc).


[one person can complete a task excellently; 2 people do it poorly, and 3 people make a mess of it].


Những phân tích trên đây  cho chúng ta thấy người Mỹ đã hiểu rất rõ người Việt. Tại sao người Việt  lại có những đặc tính như thế này?

Người xưa cũng đã nhận ra.


Học giả Trần Trọng Kim  (1883 – 1953) khi viết bộ Việt Nam Sử Lược, ấn hành lần đầu tiên năm  1919, cũng đã phân tích khá rõ ràng những đặc tính của người Việt và  những yếu tố tạo nên những đặc tính đó. Đa số người Việt lớn tuổi, khi  còn nhỏ đều đã được học bộ sử này.


Trong bài tựa, ông nói ngay:


“Người mình có ý lấy  chuyện nước nhà làm nhỏ mọn không cần phải biết làm gì. Ấy cũng là vì  xưa nay mình không có quốc văn, chung thân chỉ đi mượn tiếng người, chữ  người mà học, việc gì cũng bị người ta cảm hóa, chứ tự mình thì không có  cái gì là cái đặc sắc, thành ra thật rõ như câu phương ngôn: «Việc nhà  thì nhác, việc chú bác thì siêng!»


“Cái sự học vấn của mình  như thế, cái cảm tình của người trong nước như thế, bảo rằng lòng vì dân  vì nước mở mang ra làm sao được?”

Trong nước, tiêu chuẩn của  cuộc sống là có nhà sang cửa rộng, có xe hơi, có con đi du học ngoại  quốc… Tiêu chuẩn ở hải ngoại cũng thế thôi: Đi dâu cũng nghe khoe nhà  trên cả triệu bạc, xe loại sang trọng nhất, con đang học bác sĩ, dược  sĩ, kỹ sư… Gần như không nghe ai khoe những công trình đang nghiên cứu  hay thực hiện để đưa con người, cộng đồng và đất nước đi lên. Tất cả chỉ  tập trung vào hai tiêu chuẩn là “đẹp mặt” và “ấm thân”.


[…]


Nếu mỗi gia đình và mỗi cá  nhân chỉ lấy những mục tiêu như trên làm mục tiêu của cuộc sống và  truyền từ đời nọ sang đời kia, còn lâu cộng đồng và đất nước với ngóc  đầu lên được.


Trong khi người Việt nhiễm  văn hoá Trung Quốc đã trở thành như đã nói trên, người Hoa khi ra hải  ngoại lại thích ứng rất nhanh nên vươn lên khá nhanh và khá cao. Những  đặc tính của người Hoa ở hải ngoại được mô tả như sau:


1. Cần cù, việc gì cũng làm


2. Tiết kiệm, không sống khoe khoang hay xa hoa.


3. Khởi sự từ buôn bán nhỏ.


4. Đơn vị kinh tế gia đình: Gia trưởng đóng vai trò quan trọng. Tài sản có thể truyền từ đời nọ sang đới kia.


5. Hình thành những xí  nghiệp không theo một hình thức chặt chẽ, không theo những quy luật nhất  định, tất cả đều dựa vào chữ TÍN.


6. Không làm những công  việc có tính cách phức tạp hay quá to lớn, chỉ thích kinh doanh vào  những lãnh vực đơn giản. Khi cần làm ăn lớn thường chia ra làm nhiều  công ty con.


7. Móc nối với chính quyền  và cá nhân khác rất giỏi. Không tham gia chính quyền hay đảng phái nào,  nhưng thường nắm được các nhân vật có địa vị quan trọng có thể bao che  hay hổ trợ cho làm ăn.


(Tại Indonesia, người Hoa  chỉ chiếm từ 3% đến 4% dân số, nhưng làm chủ 70% tài sản ở đất nước này  với khoảng 160 trong số 200 xí nghiệp lớn của Indonesia. Gia đình ông  Liem Sioe Liong, làm chủ xí nghiệp Salim với số vốn khoảng 9 tỷ mỹ kim,  nhờ quen biết lớn với Suharto).


8. Không thích tranh tụng, kiện cáo. Thường tìm cách dàn xếp mỗi khi có đụng chạm hay bị bắt vì vi phạm luật pháp.


9. Phạm vi hoạt động gần như không biên giới.


10. Thích ứng rất nhanh với những biến đổi của thời cuộc.


Trong bài “Mạng lưới kinh  tế của người Hoa hải ngoại”, ông Phạm Văn Tuấn đã nhận thấy như sau về  các hoạt động kinh doanh của người Hoa ở hải ngoại:


“Khi bắt đầu bước vào  ngành thương mại, các người Hoa hải ngoại đã nhận được sự giúp đỡ từ các  nhóm, các bang hay các cộng đồng của họ. Các hội tương trợ này được tổ  chức căn cứ vào gia đình, hay nguồn gốc địa phương, hay thổ ngữ, chẳng  hạn như các bang người Hẹ, Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến. Các hội  hay các bang này đã hoạt động như một thứ ngân hàng nhờ đó người Hoa có  thể mượn tiền, trao đổi tin tức, tuyển mộ nhân công, giới thiệu thương  nghiệp, hay thương lượng các dịch vụ. Người Hoa hải ngoại thường tôn  trọng chữ Tín, họ làm ăn bằng ước hẹn miệng và sự tin cẩn lẫn nhau, và  họ không cần phải ký kết các văn bản, các giao kèo. Nếu một thương gia  nào vi phạm lời hứa, người đó sẽ không bị truy tố ra pháp luật mà bị ghi  vào sổ đen của các nhóm, các bang, đây là một tệ hại hơn, vì tất cả  mạng lưới làm ăn của các cộng đồng người Hoa đều sẽ biết rõ sự việc, và  việc kinh doanh của người vi phạm kể như bị chấm dứt.”


Số vốn của người Hoa hiện đang sống ở ngoại quốc được ước lượng khoảng 4.000 tỷ USD.


Cuộc kiểm tra năm 2010 cho  thấy ở Mỹ hiện nay người Hoa chiếm 1%, còn người Việt là 0,5%, tức  1.548.449. Người Việt ở Cali là 581.946 nguời.


[…]


Trong khi người Việt đang  chuẩn bị ra tranh cử các chức vụ dân cử tại địa phương, thành phố, tiểu  bang và có thể liên bang, trong cuộc bầu cử sắp đến. Mục tiêu được mô tả  là để bảo vệ và nói lên tiếng nói của cộng đồng. Thì, chúng tôi không  thấy có một tổ chức chính trị nào của người Tàu hoạt động ở đây và không  nghe nói họ sẽ đưa ai ra tranh cử.


Tôi nhớ lại trong cuộc bầu  cử Tổng Thống Mỹ năm 2004, lúc đó liên danh George W. Bush đang tranh  với liên danh John Kerry. Tôi có nhờ ông Tăng Kiến Hoa dẫn đến gặp một  vài bang trưởng Tàu xem họ bầu cho ai. Họ cười và nói: Quy luật bầu cử  là phù thịnh bất phù suy. Cứ thấy ai chắc thắng là đóng tiền cho người  đó, không cần biết đường lối họ như thế nào. Họ đã nhận tiền là khi đắc  cử họ sẽ giúp mình. Nếu hai người ngang ngửa, đóng tiền cho cả hai. Tôi  hỏi người Tàu không có ai ra tranh cử dân biểu hay nghị sĩ gì sao. Họ  cũng cười và nói: Người mình có vào được quốc hội cũng chẳng làm được  chuyện mình muốn. Cứ thấy người nào có thế lực là đóng tiền cho người  đó.


Thì ra người Tàu bầu cử bằng tiền chứ không phải bầu cử bằng phiếu như người Việt!


Tôi nhớ lại trong cuộc bầu  cử năm 2000, vì hai liên danh George W. Bush và Albert A. Gore ngang  ngữa, nên người Tàu đóng tiền cho cả hai. Tây An Tự và Thiền Sư Thanh  Hải ở Los Angeles đã đóng tiền cho liên danh Gore nhưng lập danh sách  giả những người góp tiền, bị đổ bể nên chúng ta mới biết được.


Chúng ta không mong người  Việt có những nhà phát minh làm thay đổi nhân loại như John V.  Blankenbaker (phát minh ra máy vi tính 1971), Bill Gates, Steve Jobs…,  chúng ta chỉ mong người Việt biết quan tâm đến cộng đồng, đất nước và  nhân loại nhiều hơn. Nhưng điều này quá khó. Đúng như người Mỹ đã nhận  xét:


Người Việt vì  những lý do vớ vẩn, có thể hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích  của những mục tiêu nhỏ (như kiếm chút danh chẳng hạn). [sacrifice  important goals for the sake of small ones]

Người Việt thích  tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh. Một người có thể hoàn thành  một nhiệm vụ xuất sắc; 2 người làm thì kém, 3 người làm thì hỏng việc!


Chúng ta trông chờ  vào thế hệ sắp đến, không bị vướng mắc với quá khứ, học được nhiều cái  hay của xứ người, sẽ đưa cộng đồng và đất nước đi vào một hướng đi mới  tốt đẹp hơn.


TKN


bottom of page