top of page
Banner edge

TÂM TÌNH

TT CSVSQ-HD 1.png

TÂM TÌNH CỰU SVSQ & HẬU DUỆ

TT CSVSQ-HD 2.png
K8 DUY VĂN HÀ ĐÌNH HUY

Tôi  không nhớ rõ ngày nào tôi bị chuyển từ trại tù số 20 Phú Quốc về trại   giam Long Giao, nhưng tháng thì vào khoảng tháng 6 của năm 1976.


Hàng trăm xe motolova do  Trung Cộng sản xuất,chạy tọt vào chiếc  duyên vận hạm HQ504 của Hải Quân  VNCH mới hải hành từ Phú Quốc về đậu  tại Tân cảng (Newport) để bốc  những người tù của chế độ cũ đưa về trại  giam Long Giao. Tôi và 39 tù  nhân khác bị đưa lên xe số 10.


Long giao là xã nhỏ  thuộc  tỉnh Long Khánh, và trại giam Long Giao  trước đây là căn cứ  của 1  trung đoàn  bộ binh thuộc sư đoàn 18 của Quân  Lực Việt Nam Cộng Hòa.


Khoảng 2 giờ đồng hồ, xe  dừng lại trên một bãi đất trống, đối diện  là một trại giam có nhiều cốt  gác và hàng rào kẽm gai chằng chịt. Hai  tên vệ binh tay trái mang băng  đỏ và tay phải thì lăm lăm khẩu AK báng  xếp từ trên xe nhảy xuống đất  hướng súng về phía người tù đang ngồi trên  xe ra lệnh phải ngồi im,  không được quyền xuống xe, nếu ai cãi lịnh sẽ  bị bắn bỏ. Vì di chuyển  nhiều ngày bằng tàu và nhiều giờ bằng xe, nên cơ  thể của tôi không chịu  nổi sự dồn nén, cơ quan bài tiết của tôi đã đòi  hỏi sự thoát nước. Tôi  định hỏi 2 tên vệ binh cho tôi xuống tiểu tiện.  Khi tôi đến gần phía  sau đuôi xe thì đồng lúc bửng xe cũng đã hạ để  chuẩn bị cho người tù  chúng tôi xuống xe vào trại. Tôi nhảy tọt xuống đất, tên vệ binh mặt rỗ  chỉa mũi súng vào đầu tôi và bắt tôi ngồi xuống  đất. Hắn ta quay báng  súng đánh vào vai của tôi nhiều phát đau điếng  người. Hắn quát: chưa có  lệnh tôi sao anh nhảy xuống? Tôi trả lời tôi  cần tiểu tiện, nên nhảy  xuống hỏi anh. Tên vệ binh mặt rỗ nói không tiểu  tiện gì cả, mặt hắn ta  cứ lầm lừ.


Những  tù nhân trên xe  được đưa vào trại, lúc đó khoảng 10 giờ đêm.  Mọi người được nhóm cán bộ  quản lý trại chỉ chỗ ở. Riêng tôi, tên vệ  binh mặt rỗ giải giao cho  một bộ đội tên là Thuyền, tên này mang quân  hàm Trung úy. Tôi nói với  tên Thuyền cho tôi được tiểu tiện tên Thuyền  dẫn ra một nhà xí ngoài  trời. Khi xong, tên này đem tôi nhốt vào một  conex gần cạnh bờ rào và  không quên nhắn nhủ: ngày mai tôi sẽ làm việc  với anh về việc không  tuân theo lệnh vệ binh. Ở trong conex, tôi ngủ  thiếp lúc nào không  biết.


Tháng sáu trời Long Giao  nắng gắt, mắt nhìn vào những khoảng đất  trống hay đường nhựa cảm tưởng  như có hơi nóng bốc lên. Conex thường  bằng sắt, nên rất hít chất nóng,  nếu nhiệt độ bên ngoài khoảng 20 độ thì  bên trong conex nhiệt độ có thể  tăng lên gấp đôi.


Tôi bị nhốt trong conex  đến trưa hôm sau, tên Thuyền đến mở cửa và  dẫn tôi ra ban chỉ huy trại  mà người tù chúng tôi thường gọi là “khung”.  Ở đây tôi phải viết bản  kiểm điểm với một tên bộ đội gọi là cán bộ chấp  pháp. Tên cán bộ chấp  pháp này hỏi tôi lý do nào tôi nhảy xuống xe khi  chưa có lệnh của vệ  binh. Và hành động của tôi như thế có phải muốn trốn  trại? Tôi viết  kiểm điểm cũng giống với lời khai là vì tôi rất mắc tiểu  tiện nên phải  nhảy xuống xin phép vệ binh, nhưng anh vệ binh đã nghĩ  thế nào đó đã  đánh tôi và bắt nhốt, giải giao đến khung.


Làm việc xong với tên cán  bộ chấp pháp này, tôi được đưa về đội 4.  Đội này do tên trung úy Tiêm  làm đội trưởng, đội phó là tên thiếu úy Be.  Về phần đại diện đội tù thì  người tù  HKL đảm nhiệm để làm trung gian  giữa cán bộ và tù nhân. Đội 4  giống như các đội tù khác như đội 1, đội 2  và đội 3 cùng trại là: lao  động khổ cực ngoài nương rẫy, chặt cây rừng  làm củi đốt, trồng mì, phát  hoang, hoặc dọn những bãi mìn còn sót lại  của những đồn bót sau  chiến  tranh.


Công việc đốn cây rừng và  gỡ mìn là hai nhiệm vụ mà đội 4 thường  làm. Một bữa nọ, tên Thiếu úy Be  dẫn 10 người tù của đội 4 trong số đó  có tôi. Mỗi tù nhân đi gỡ mìn  được phát một bàn cào sắt giống như cào cỏ  của Trư Bát Giới dùng làm vũ  khí đánh yêu quái trong chuyện Tây Du Ký  của Ngô Thừa Ân, một tác giả  là người Trung Quốc chuyên viết những  truyện cổ có tính phiêu lưu.  Nhưng cào cỏ của họ Trư có cán, còn bàn cào  của những người tù gỡ mìn  không có cán, mà được thay cán bằng một sợi  dây điện hay dây nylon dùng  cột võng trường sơn của mấy tên bộ đội miền Bắc. Mỗi người tù đi gỡ mìn  cũng còn trang bị thêm một xẻn nhỏ dùng để  đào lỗ ẩn thân.


Bãi mìn  đầu tiên toán tù  mười người chúng tôi gỡ là một đồn của  lính VNCH cách xã Cẩm Mỹ 1 cây  số. Đồn nằm trên một vị trí gò đất cao  nên mùa nắng đất rất cứng, khó  cho việc đào hố ẩn thân. Nhưng để bảo  toàn sinh mạng, người tù buộc  phải đào được hố  sâu qua khỏi đầu.


Mười tù nhân chúng tôi  ngồi thỏm trong hố cách nơi có mìn chừng khoảng mươi mét. Theo lệnh của  tên thiếu úy Be, chúng tôi quăng những  cào sắt có cột dây vào khu vực  có mìn và kéo rà như vậy nhiều lần. Những  quả mìn lộ thiên khi bị chạm  vào cào sắt sẽ nổ làm đinh tai điếc óc, lắm  lúc những người tù chúng  tôi phải chết bởi miểng do những quả mìn nổ gây ra.


Một lần gỡ mìn ở Cẩm Đường  toán tù gỡ mìn của chúng tôi mất mạng 2  người vì quả mìn cóc nổ tiếp  cận. Anh T bị một miểng mìn xuyên qua lồng  ngực, còn anh G thì bị vỡ  vùng cổ và càm.


Mỗi lần đưa người tù đi gỡ  mìn bọn họ đem theo rất nhiều vệ binh để  canh chừng người tù. Họ đứng  rất xa để quan sát và ra lệnh chứ không dám  đứng gần.


Tên thiếu úy Be là người  sắc tộc miền núi nên giọng nói rất khó  nghe. Mỗi khi hắn ta truyền lệnh  gì cả toán chú ý lắm mới hiểu  được nội  dung hắn ta nói.


Có lần, hắn ta dẫn cả đội  vào rừng chặt cây vác về làm nhà, cùng  theo hắn có 4 vệ binh  hầu hết  là người thiểu số miền Bắc. Hắn gọi đội  trưởng HKL giao trách nhiệm để  HKL truyền lại cho anh em tù hiểu mà làm  theo. Cả đội tù chúng tôi nhìn  thấy anh HKL cứ hỏi lại hắn ta nhiều lần,  có lẽ vì anh đội trưởng  không nghe nổi giọng nói của hắn nên yêu cầu  hắn đến trước đội nói lớn  cho anh em tù cùng nghe.


Hắn chỉ thị anh HKL: “anh  dãn dọi nên  khu rừng Com My dón cây, vất  về đại, để nàm nớp học nà  náng. Mõi người như vọi nà hai cây có đường  kánh nà 10 centimét”. Đó là  nguyên âm câu chỉ thị của hắn, mãi sau quen  dần giọng nói của hắn  những người tù chúng tôi mới hiểu hắn ta nói: “anh dẫn đội lên khu rừng  Cẩm Mỹ đốn cây, vác về trại, để làm lớp học và  láng. Mỗi người như vậy  là hai cây có đường kính là 10 centimét”.


Giải mã xong cả đoàn tù vào rừng. Trong chuyến đốn cây rừng này, tôi  ngất xỉu bởi do một cây rừng dính vào dây leo phóng mạnh đập vào lưng  làm tôi té, đập đầu vào  một tảng đá cuội. Ở trại D12 Long Giao, người tù  vào rừng đốn cây,  thường được phát một con dao dài trông giống như một  chiếc mã tấu, nhưng thô kệch hơn mã tấu. Cây dao này cũng do những  người tù làm từ  nguyên liệu là những cọc sắt “ấp chiến lược” nên độ bén  không lâu như  những chiếc dao làm bằng thép nung. Chặt vài ba nhát thì đã lục ngay,  phải mài lại mới có thể dùng được nữa. Thế mà bọn cai tù  đặt chỉ tiêu  là phải chặt nhiều cây, thì mới gọi là lao động tốt. Có  những bạn tù sau ngày đốn cây rừng hai bàn tay phồng dộp cả lên, mà  không có thuốc  chữa nên lâu ngày lở loét, nhiễm trùng nhiều người phải  cắt bỏ bàn tay.


Vào năm 1978, cả nước đều  đói, do việc cộng sản Việt Nam lấy lương  thực đặc biệt là gạo trả nợ  chiến tranh cho quan thầy Nga – Tàu, nên bọn  cán bộ cai tù ra chỉ thị  cho các tù nhân phải lao động cật lực hơn,  tăng sản xuất. Người tù phải  ăn độn bo bo,củ mì khô sắc lát hoặc bắp,  nhưng các thứ ngũ cốc này  cũng không đủ ăn. Tiêu chuẩn một phần ăn cho  người tù tại trại D12 Long  Giao là một chén nhỏ bắp hột với một miếng cá  khô chỉ bằng ngón tay  trỏ của đứa bé 10 tuổi. Thế nhưng phải lao động  nhọc nhằn theo chỉ tiêu  của bọn cai tù đưa ra. Với tình trạng ăn uống  thiếu thốn mà phải làm  quá sức, nhiều tù nhân đã ngã bệnh, khi bệnh  không có thuốc uống, chỉ  uống lá cây rừng thay thuốc. Loại lá rừng  thường được người tù dùng để  chữa bá bệnh đó là lá mặt nhân và dây nhãn  lồng. Có những người tù chết  vì kiệt sức thân xác của họ được cuộn vào  manh chiếu hay đệm rách và  rồi được đem chôn sơ sài ngoài một bãi đất  hoang cách trại giam vài  trăm mét. Những người tù bệnh kéo dài nhiều  ngày, bọn cai tù cho bắt  đưa lên khung cho y tá của họ khám lại, phần  lớn đều bị cưỡng bách lao  động vài ngày sau đó, mặc dù còn bệnh.


Sau ba tháng áp dụng kế  hoạch chỉ tiêu, tăng năng xuất, tù nhân bị  bệnh quá nhiều mà hầu hết  cùng một thứ bệnh là kiệt sức. Bọn cai tù mới  cho viết thơ thông báo  gia đình tù thăm nuôi. Lần đầu tiên được gia đình thăm nuôi và tiếp tế  thực phẩm sau ba năm 4 tháng kể từ ngày tôi bị bắt vào tù. Gặp lại người  thân tôi rất mừng, nhưng người thân và tôi cũng  không trọn mừng sau  bao ngày xa cách vì không nói được gì. Bởi bọn cán bộ ngồi xồng xộc  trước mặt để theo dõi từng cử chỉ của tù nhân và gia  đình, lại nữa thời  gian thăm nuôi thì quá ít ỏi. Không đầy 5 phút, tôi phải chia tay với  người thân, vào lại trại giam, trong  khi người thân của tôi phải lặng  lẽ ra về trong nỗi bùi ngùi.


Trong tình trạng đói khát  trầm trọng, bọn cai tù buộc mỗi người tù  phải tự túc trồng rau sắn để  cải thiện đời sống. Những luống rau muống  hoặc dền được người tù canh  tác đầy trong khuôn viên trại giam, mùa khô  trong trại chỉ có một cái  giếng do tù nhân đào , không đủ nước để tắm  giặt nói chi có nước để  tưới rau, người tù phải dùng nước tiểu của minh  để giải quyết tình  trạng thiếu nước của rau. Rau trồng lớn, cán bộ phụ  trách nhà bếp (anh  nuôi) vào thu gom và khen thưởng người tù nào có số  rau đạt chỉ tiêu.  Họ mở nhiều đợt thi đua dồn ép người tù phải làm, nếu  nhiều lần thu  họach không đạt chỉ tiêu thì phải làm tờ kiểm điểm. Tờ  kiểm điểm phải  nói rõ lý do nào mà không đạt chỉ tiêu. Sau việc viết tờ  kiểm điểm, bọn  cai tù đưa ra kiểm thảo và đấu tố. Nhiều tù nhân bị kỷ  luật vì việc  trồng rau không đủ chỉ tiêu như thế này.


Cứ mỗi một tháng bọn cai  tù bắt những tù nhân đem đồ đạc ra bày giữa  sân để bọn chúng kiểm tra.  Chúng không cho biết mục đích của sự kiểm  tra, thế nhưng việc kiểm tra  đồ đạc của người tù trong trại D12 thật  khắc nghiệt. Họ tịch thu tất cả  tiêu, ớt, thuốc tây, dao, kéo, gạo sấy,  mì gói, tiền, lương thực khô,  sách báo có chữ ngoại quốc, kinh điển, đặc  biệt là thuốc trụ sinh.


Lần kiểm tra đồ đạc vào  khoảng  tháng 12 năm 1978, để bọn cai tù bộ đội  bàn giao tù nhân trại  D12 cho bọn cai tù công an (bò vàng), tôi bị tên Thiếu úy Be tịch thu  nguyên bộ sách English For Today của Lê Bá Kông và qui cho tôi tội còn  ngưỡng vọng Mỹ, luyến tiếc cuộc đời làm tay sai. Hắn bắt tôi viết kiểm  điểm làm sáng tỏ sự việc này. Sau khi viết xong bản kiểm điểm, hắn tống  giam tôi vào conex. Ở trong conex khoảng 2 giờ đồng hồ, tên trung úy  Tiêm đội trưởng đội 4 cùng với anh HKL mở cửa conex thả tôi ra và cho  biết nếu vi phạm một lần nữa sẽ bị nhốt biệt giam.


Trong trại giam D12 có 4  đội tù. Mỗi đội trực nhà bếp một tuần, nên  anh đội trưởng phải cử người  để canh chừng và đun lửa cho các chảo bắp nấu. Các đội khác cho người  làm tốt được ban quản giáo khen ngợi, bởi lẽ  khi bắp hột cho vào trong  chảo nấu tất cả hạt bắp sẽ nở to và sẽ đẩy bung nắp chảo lên. Cán bộ đến  kiểm tra thấy vậy cho là tốt. Một hôm đến  đội 4 của tôi và lại đúng  vào ngày tôi trực bếp tên cán bộ hậu cần (anh nuôi) đem bắp ra đo, đong  và đưa một ít vôi để pha vào trong chảo cho  bắp mau nở. Xong việc tên  cán bộ ra ngoài khung. Trong bếp còn lại anh  Luông (hiện nay ở Oklahoma  US) và tôi. Hai chúng tôi thay phiên nhau ngủ và canh 4 chảo bắp đến  khuya các chảo bắp đã chín và các hạt bắp đã nở  to đẩy nắp vun chảo lên  khá cao. Hai chúng tôi đều an tâm định ngủ một  giấc đến sáng bàn giao  cho cán bộ “khung”. Chắc sẽ được khen. Nhưng sáng  ngày hôm sau hai  chúng tôi không được khen mà ngược lại còn phải làm kiểm điểm, bởi do 4  chảo bắp không còn đẩy vun như lúc khuya. Tên cán bộ  hậu cần nói: Với  liều lượng vôi và hạt bắp như vậy, tôi tin các chảo  bắp sẽ nở rang lên  đầy cả vung và ta sẽ có đủ lương thực phát cho các  anh cả ngày. Nhưng  tôi thất vọng đối với hai anh. Hai anh phải giải  thích rõ thế nào về sự  giảm sút của các chảo bắp, nếu không tôi sẽ đề  nghị nhốt hai anh. Tôi  cứ giải thích lòng vòng để nó qua truông. Còn anh  Luông cứ chối thẳng  thừng là anh không biết gì về việc các chảo bắp bị  tụt giảm. Tên cán bộ  hậu cần quay mũi dùi vào tôi mà tấn công liên tục.  Hắn ta nói: anh  Luông không biết còn tôi thế nào? Tôi nói với anh ta rằng: có lẽ cán bộ  đưa cho tôi loại bắp không nở tốt như các loại bắp  anh đưa cho các đội  khác. Tên cán bộ quả quyết rằng anh ta làm đúng và  tôi là người sai.  Cuối cùng tôi bị kiểm điểm và bị tống vào conex bởi  một viên thiếu úy  ban chấp pháp của trại. Vì anh ta đã có lời khai của  một người bạn tù  của tôi, (tạm dấu tên) cho rằng tôi đã mở các chảo bắp cho anh em tù tự  động xuống lấy bắp nên các chảo bắp mới bị tụt giảm như vậy. Thực vậy,  khi anh Luông ngủ còn lại mình tôi. Tôi thấy anh em tù của mình đói quá  xuống nhà bếp xin ăn tôi làm lơ cho lấy, nhiều bạn tù lấy nên các chảo  bắp đã giảm xuống tới mức như vậy. Người bạn tù của tôi lấy nhiều bắp  hôm đó là anh “Cóc Ma ru” tức trung úy cảnh sát đặc biệt Nguyễn Hữu Ngọc  (đơn vị bót Bà Hòa Chợ Lớn)  Anh Ngọc có một đặc tính rất điềm đạm,  nhưng rất là ngang tàng, thuộc loại chịu chơi thời thượng, nên ít khi  làm phiền hà bạn bè, nhưng tôi không biết vì sao đêm hôm đó  anh ta lấy  bắp nhiều quá. Tôi biết anh dùng lon guigoz xúc vào chảo bắp đến 5-6  lượt. Có lẽ anh có kế hoạch riêng vì cho anh đối với cuộc sống đầy tù  tội khốn khổ này.


Sau khi trở về đội lao  động từ conex thời gian cũng chiếm mất một tuần. Tôi không được làm việc theo lịch luân phiên ở nhà bếp nữa. Tới  phiên tôi anh đội trưởng  HKL theo lệnh của cán bộ phân công người khác  thay tôi. Tôi chỉ còn  được phép theo cán bộ hậu cần và các anh em đi  khuân gạo và thức ăn từ  nhà thầu đem đến từ những “chiếc xe đò lỡ” chạy  bằng than đá. Đây là  dịp tôi đã tiếp xúc được với các anh tài xế và lơ xe trong lúc hành sự.  Và nhờ nhiều lần đi lấy hàng định kỳ như vậy qua trao đổi  tôi hiểu rõ  một phần nào cuộc sống của dân chúng bên ngoài sau 4 năm nằm trong trại  tù bịt kín.


Đêm,  ngày, tháng…. năm  1978. Đã đến 2 giờ sáng tôi vẫn chưa ngủ, người bạn tù nằm cùng bên vẫn  thao thức, nhưng chúng tôi không thể nói chuyện qua lại được vì sợ làm  phiền những bạn tù khác, hoặc cũng phải dè  dặt với những người đồng  cảnh không tốt với mình. Ba giờ sáng, chúng tôi cùng nghe tiếng súng nổ  lớn và giòn gần như đâu đây quanh trại. Tôi và người bạn tù định chồm  dậy để xác định hướng súng nổ, nhưng không dám. Chúng tôi nhìn nhau và  cố định hướng. Thật ra một ảo giác nào hoặc là do tiếng gió thổi mạnh về  hướng trại của chúng tôi, chứ tiếng nổ không gần như chúng tôi nghĩ.  Tiếng súng nổ gần sáng mỗi lúc lại tăng  lên và im sau khoảng 5 giờ  sáng.


Sáng hôm sau, sớm hơn giờ  tập họp đi lao động. Chúng tôi thấy bộ đội  ngoài “khung” và quản giáo,  chấp pháp đã tràn đầy vào khuôn viên trại.  Các vệ binh lăm le trên tay  những khẩu súng AK và CKC có vẻ như muốn đè  bẹp hoặc uy hiếp tinh thần  những người tù nhân chúng tôi về một việc gì  đó mới vừa xảy ra.


Tên Thân trưởng trại cho  các đội tù ngồi tập họp trước sân các láng.  Với điếu thuốc “Điện Biên” ông ta xoe đi xoe lại trên môi và nói: “Hôm  nay, chúng tôi tập họp các  anh lại và hôm nay các anh không phải đi lao  động. Mà hôm nay, các anh  sinh hoạt trong trại với chúng tôi. Chúng ta  cần tìm hiểu về đường lối  “cài đặt" của bọn CIA Mỹ và Ngụy. Như các anh  đã biết “bọn phản động Mỹ - Ngụy, cho đến nay vẫn còn tạo sự nguy hiểm  cho nhân dân và đồng bào  ta. Đã hơn 4 năm kể từ Đảng và nhân dân ta “giải phóng” thống nhất đất  nước. Bọn phản động vẫn không để cho chúng  ta bình yên. Tối đêm qua,  nhân dân họ Đạo miền cây Gáo không chút bình  yên với bọn “tàn quân” Mỹ  Ngụy. Chúng đã len lỏi vào khu vực họ Đạo và  đã giết một số bộ đội ta  trấn đóng quanh khu vực có nhiều giáo dân. Nhưng bộ đội ta đã đẩy lui  gây tổn thất nhiều nhân mạng cho bọn chúng.


Các anh, phải bình tĩnh  hãy tin vào bộ đội và nhân dân ta. Nhiệm vụ  nào bộ đội ta cũng hoàn  thành và khó khăn nào bộ đội ta cũng vượt qua.  Chúng tôi được biết, một  số anh khi đi lao động đã có sự liên hệ gắn  chặt với những phần tử  phản động còn ẩn nấp bên ngoài. Các anh cần phải  thật thà khai báo rõ  cho chúng tôi. Đây là những bản kê khai bổ sung các  anh Đội trưởng hãy  lấy phân phát đến với nhau, khai rõ ràng và kiểm  điểm vào đấy rồi nộp  cho chúng tôi. Nhớ là phải thành khẩn khai báo nhé.


Bọn họ quay trở lại  “khung”. Người tù chúng tôi, mỗi người đều nhận  tờ giấy khai báo. Nhìn  qua, những điều quy định và những câu hỏi có thể  suy luận ra nhiều vấn  đề sâu sắc với óc bình thường của con người có thể  hiểu được tại sao  bọn họ làm công tác này.


Một ngày, chỉ quần quật  trong láng trại với đầu óc căng thẳng với tờ  khai báo. Những người tù  của chúng tôi, phải lao động vất vả cho ngày  hôm sau bù lại ngày hôm  trước. Như thường nhật, mỗi khi lao động về tù  nhân chúng tôi được lùa  vào trại và cổng trại được kéo kín bởi một lớp  dây kẽm gai và bên trên  lô cốt lúc nào cũng có một tên vệ binh lăm le  khẩu AK như chĩa vào đoàn  người tù chúng tôi.


Trời vào hè ở Long Giao  mặt trời lặn trễ, không khí “ca cóng” (nấu  nướng theo kiểu Guizgo)  trong trại còn có thời gian để khoản đãi những  người tù đói như chúng  tôi. Có anh nấu củ mì hoặc những thứ thực phẩm gì  nhặt hái được trong  rừng ngày lao động. Chủ yếu là để chống đói mà  thôi.


Vài tuần trôi qua, sau vụ  việc khai báo bất thường. Tối ngày G,  nhiều chiếc xe Thiết Giáp M113  của Quân Lực VNCH cũ xuất hiện và chạy  xung quanh trại D12 đèn rọi khắp  quanh rào trại (có lẽ những chiếc xe  tăng này là chiến lợi phẩm của  bọn chúng sau ngày ăn cướp miền nam và  giờ lấy sử dụng lại). Sự xuất  hiện của những chiếc xe tăng này trong  vòng hai giờ đồng hồ. Những  người tù chúng tôi thấy rõ mồn một, nhưng  chẳng ai dám xì xầm gì!


Một tuần sau đó, khi đoàn  người tù lao động mới vừa về vào trong  lòng trại. Một con mễnh (người  phía Bắc gọi con mang) cũng đã lục tục  vào trong trại mà không một ai  hay biết. Cho đến khi giờ “ca cóng” bắt  đầu mọi người mới phát giác ra  cậu “mễnh” khảnh kia chạy tung tăng khắp  láng và xuống đùa giỡn với các  thần táo nhà bếp.


Dĩ nhiên là số phận của  con vật này sẽ ra sao? Chắc mọi người đều  biết. Đám vệ binh vào trong  trại dùng dây vòng bắt con mễnh và đem ra ngoài “khung” làm thịt. Nhiều  người tù lớn tuổi “đoán già đoán non” cho  rằng con mễnh vào làng là có  điềm xui xẻo, như vậy con mễnh vào trại D12 chắc có điềm quái gỡ gì đây?  Ờ, mà ai ăn thịt của nó còn xui dữ hơn nữa. Có anh nói nếu nói như vậy  thì bọn tù của chúng mình không có xui  mà bọn họ ở ngoài “khung” mới  xui ra bở.


Việc tin vào chữ hên xui,  được nghe qua rất nhiều khi tôi còn ấu  thơ. Và việc con mang (mễnh)  chạy vào làng quê tôi hồi trước năm 1975  cũng có. Tôi nhớ một chiều  thôn ấp của tôi ùn ùn  người và chó đã rượt  bắt được con mễnh đang chạy  vào làng. Nhiều thanh niên vạm vỡ với nhiều  con chó Phú Quốc (chó  chuyên săn bắt). Sau nhiều giờ truy bắt họ đã bắt  được con mang (mễnh)   không lớn lắm. Họ trói con vật và để ngay trước  sân nhà anh ruột của  tôi là một Trung đội trưởng Nghĩa Quân ở Ấp.

Ba tháng sau, một đêm  trăng nhà của anh ruột tôi bị Việt cộng bao  vây, bọn họ bắn vào nhà tan  tành nhưng anh không trúng đạn chết ngay ở   nhà mà anh chết ở  một nơi  khác.


Tôi nhớ không lầm, ngày ấy  vào ngày rằm tháng tám Trung Thu năm 1965  trăng trên trời lung linh  chiếu tỏa khắp trong một thôn ấp miền quê  thanh tịnh. Ánh sáng soi đến  độ mọi vật dấu vết to nhỏ đều có thể thấy  được. Khoảng 12 giờ đêm,tôi  vẫn còn học bài chuẩn bị cho buổi học ngày  sau. Tôi nghe tiếng động,  quanh nhà anh tôi (vì ở miền quê gia đình anh chị em ai có chồng vợ,  cha mẹ cho ra riêng cũng cất nhà ở lòng vòng xung  quanh gần phần đất  của cha mẹ. Nhà anh tôi cách nhà Mẹ tôi có một dãy  chuối và dừa). Tôi  gọi mẹ tôi và nói: hôm nay, nhà anh Năm có tiếng ồn  ào khác lạ, mà  không có tiếng máy truyền tin kêu vang như mỗi ngày. Vả  lại, hai con  ngỗng nhà của anh ấy sao hôm nay bỗng kêu to. Mẹ tôi bảo  tôi, con chạy  qua bên ấy coi xem sao! Tôi xếp vở lại và đi qua nhà anh ấy. Khi tôi  mới đến dãy chuối, tôi thấy một tên Việt cộng đội cái mũ tai  bèo mặc  quần cụt trên tay lăm le khẩu súng và lớn tiếng đuổi tôi “thằng  nhỏ mầy  vào nhà không tao bắn mày”. Tôi bèn phải lùi lại vào nhà. Tôi nói với  mọi người trong gia đình là Việt cộng đã bao vây nhà anh Năm để  bắt  anh. Mọi người trong nhà chia nhau ẩn nấp nhưng vẫn theo dõi về phía   nhà anh tôi. Một loạt đạn bắn ra tiếng nổ như đinh óc, tôi không biết   là của loại súng gì? Tôi nhìn thấy, Anh Hai Suỗng (một đồng đội của anh tôi) từ nhà của anh chạy đến nhà anh tôi, trên tay cầm cây súng  carbine  M1. Anh kêu tên anh tôi, nhưng sau đó thì ngưng. Nhìn qua khe  cửa tôi  thấy chú Hai Thông Sự (chức vụ theo đạo Cao Đài) ở đối diện   nhà mẹ của  tôi bò ra ngoài hàng rào cho anh Hai Suỗng biết việt cộng đã  bao vây nhà  anh tôi. (Tôi nghĩ, nếu không có chú Hai cho biết thì anh  Hai Suỗng  cũng đã bị bắn bởi tên việt cộng ở dãy chuối nhà mẹ tôi).  Tiếng súng nổ  xa và thưa dần. Lính Nghĩa Quân từ Quận, Xã kéo đến Ấp  Hiệp Thạnh nơi  nhà của anh tôi, cũng là nơi bao nhiêu năm trời anh tôi  đã chiến đấu,  ngăn chặn sự tiếp tế lương thực của bọn việt gian cho  việt cộng cùng với  sự bảo tồn hệ thống Ấp Chiến Lược quanh làng. Anh  tôi đã hy sinh tại nhà người bạn cũng là người đồng đội với anh. Tôi và  Mẹ cùng đứa em Út  cùng bà con hàng xóm đưa xác anh về nhà. Vết thương  làm anh không còn  tồn tại trên thế gian nữa do viên đạn CKC xuyên thủng  màn tang (theo  giám định sau cái chết của Chính quyền VNCH).


Đám tang anh tôi làm theo  lễ nghi của người tín hữu Cao Đài, nhưng chính quyền thời VNCH lúc ấy  cũng truy điệu theo truyền thống của một quân nhân. Anh tôi đã được  những người đồng đội đưa tiễn với nhiều loạt  súng đưa hồn tận nghĩa  trang và dĩ nhiên đã được phủ cờ vàng ba sọc đỏ Việt Nam Cộng Hòa.


Qua sự hy sinh của anh  tôi. Cơ quan An Ninh Quân Đội Tỉnh Tây Ninh  đã vào cuộc. Bằng sự chuyên  nghiệp họ đã tìm phăng manh mối của bọn nằm  vùng. Họ đã bắt được hầu  hết các viên chức Xã ,Ấp có liên quan đến sự  việc. Một ông Phó Xã  trưởng, ông Trưởng Ấp, ông Phó Trưởng Ấp và một  Nghĩa Quân viên đã bị  truy tố trước pháp luật. Tên anh tôi được chính  quyền thời đó tuyên  dương và đặt tên cho một con đường trong Thôn Ấp.


Vài năm sau, khi tôi  trưởng thành, nếu ai có nhắc đến cái chết của  anh, tôi thường lân la và  tìm hiểu sự việc để truy tìm nguyên nhân hơn.  Dĩ nhiên có nhiều nguồn  tin, không đúng 100%, nhưng nó cũng tạo sự hữu  ích trên con đường tìm  biết.


Những người bạn cùng chiến  đấu với anh tôi cùng thời thì cho rằng sự  lỏng lẻo của tổ chức Nghĩa  Quân trong những năm đầu khi thành lập  (chuyển từ Dân Vệ qua). Tôi cho  đó chỉ là một phần tương đối của hiện  tượng trong việc đi tìm nguyên  nhân về cái chết của một quân nhân. Thực  chất cái chết của anh tôi đã  tạo một sự kiện cho một chuỗi sinh hoạt có  tính “lính” và “dân”.  Ai  cũng có thể biết Việt cộng gian trá và xảo  quyệt. Thế nhưng thế hệ này  đến thế hệ khác đều mắc phải bởi tính không  cảnh giác nên đã bị Việt  cộng len lỏi xâm nhập trong tổ chức và khuynh đảo.


Lùi lại thời điểm trước khi xảy ra cái chết của anh tôi. Thời điểm đó, người lính Nghĩa Quân  cải tổ từ Dân Vệ qua, đôi khi có những “thanh  niên chiến đấu”, nên việc gia nhập của họ về mặt “lý lịch" ngành an ninh  còn sơ hở, bởi phần lớn  những thanh niên gia nhập vào Dân Vệ - Nghĩa  Quân sau này đều sống và  lớn lên ở địa phương. Về mặt “nổi” thực tế mọi  người ai  cũng đều minh  xác nên được tin tưởng nhiều. Cho nên, nếu  người nào họ quyết tâm phục  vụ lý tưởng bảo vệ xóm thôn của họ thì thật sự họ trở nên những con  người đầy quả cảm và cương quyết. Và theo suy nghĩ này thì cũng có  những sự kiện ngược lại mà đầu mối là do Việt cộng móc nối dụ dỗ đưa  đến sự phá hoại.


Về An ninh, nhất về mặt  trang bị ý thức tình báo cho một quân nhân   còn quá kém chưa đi sâu vào  lòng của mỗi quân nhân (đặc biệt những người  lính Nghĩa Quân và Dân Vệ  vì nhiệm vụ của người lính Nghĩa Quân không  giống như người lính các  binh chủng của quân lực VNCH. Người lính Nghĩa  Quân, họ vừa là một quân  nhân tác chiến để bảo vệ làng thôn, họ còn là  một người lính tâm lý  chiến, và cũng vừa là một “tình báo viên”….) Do  vậy, tính chất của họ  không chỉ đơn thuần là một chiến sĩ giết giặc mà  là một quân nhân đa  năng.


Lòng vòng, trở lại ý nghĩa  tìm nguyên nhân. Những yếu tố khách quan,  chủ quan đều được cân nhắc,  và về sau được mọi người đồng chung lý  giải. Đó là yếu tố trực tiếp đưa  đến sự hy sinh của  anh tôi và cũng là  nguyên nhân tiên quyết. Do sự  yếu kém về mặt tổ chức và sự trang bị ý  thức tình báo cho lực lượng Dân  Vệ - Nghĩa Quân lúc cải tổ.


Trung đội Nghĩa Quân Ấp  của anh tôi phụ trách một tuyến dọc dài giáp  ranh với những Ấp khác  trong một khu vực rộng lớn của một xã chứa 8 Ấp.  Địa bàn Ấp của Trung  Đội Nghĩa Quân của anh tiếp cận với ngõ ra vào  tiếp tế lương thực cho  bọn Việt cộng ở vùng sâu. Vào thời kỳ chương  trình thực hiện Ấp Chiến  Lược. Bọn du kích việt cộng bị động và đưa đến  giai đoạn đói cực kỳ bởi  các cửa ngõ ở các đầu Ấp Chiến Lược đều có Lính  Nghĩa Quân và Dân Vệ  canh gác. Trung Đội Nghĩa Quân của anh tôi đã làm  việc này hữu hiệu. Vì  thế bọn Việt cộng rất oán ghét và tìm cách triệt hạ.


Tôi không biết ở mỗi nơi  tổ chức Lực lượng  Nghĩa Quân ra sao, nhưng  tôi biết ở xã Hiệp Ninh nơi  quê hương của tôi có một Trung đội Nghĩa  Quân ở Xã và mỗi Ấp đều có  một Trung đội nữa. Vào thời điểm này, những  người lính Nghĩa Quân ở Ấp  thường hay tập họp tại một vị trí cố định nào đó rồi nhận sự chỉ thị từ  trên ( cấp Xã hay Quận) để đi hành quân. Lính  Nghĩa Quân ấp Hiệp Thạnh  hay tập họp tại nhà anh của tôi và cũng chính  sự tập họp cố định này mà  đã là một môi trường tốt cho bọn việt cộng nằm vùng theo dõi dưới dạng  “tình báo nhân dân”. Hơn thế nữa, sau mỗi lần  đi hành quân hay đi “ba  trui” sau đêm khuya mọi người lính đều về nhà  với gia đình, vợ con, bởi  vì không có đồn bót để vào trú ngụ. Chính sự  việc lâu ngày trở nên  quán tính nên Việt cộng mới điều nghiên và bao vây  ám sát và bắn giết  từng người. Việc hy sinh của anh tôi cũng đã lọt  trong tầm ngắm của  Việt cộng qua thời gian dài điều nghiên nên bọn chúng  đã hành sự có kết  quả cho bọn họ.


Câu chuyện về cái chết của  anh tôi sau ba tháng khi con mang (mễnh)  chạy vào làng, như tôi đã  trình tiết. Còn việc tin vào hay không tùy  theo đức tin của mỗi người.


Trở lại việc con mang  (mễnh) vào trại, mọi người tù chúng tôi phần  lớn cho rằng bọn cán bộ  ngoài “khung” sẽ lãnh hậu quả sau khi ăn thịt  con mang này. Sự việc xui  xẻo xảy ra cho bọn cán bộ khung ở một dạng  khác. Có lẽ vì những người  tù nhân của chúng tôi không biết nhiều hơn về  bọn họ. Lại nữa vì là  những tin đồn truyền khẩu (nhưng trong giới hạn)  nên khó tưởng tượng.


Sau thời điểm con mang  chạy vào trại. Những người tù của chúng tôi  nghe tin đồn thổi rằng hai  vệ binh ở trại D12 bắn nhau vì giành giựt gái  một chết và một bị thương  nặng trong một quán cà phê trên đường vào xã  Cẩm Đường. Anh vệ binh  chết tên H người còn lại tên T. Một việc khác, là  việc tên thiếu úy cán  bộ chấp pháp bị một vệ binh người miền Nam bắn  gãy chân sau việc cãi  nhau về món tiền không biết nguồn gốc.


Đối với người tù (cải tạo)  chúng tôi muốn được yên thân, nhưng đối  với việt cộng họ không để cho  chúng tôi được một phút nào bình yên. Họ  phỉnh gạt lừa đảo, hứa hẹn và  luôn khủng bố … cho nên những người tù chỉ  có một suy nghĩ duy nhất  là  phải vượt thoát nếu có thể.


Chuyện anh Dương Phục  thoát khỏi conex trong thời gian 9 ngày bị  giam giữ, bị còng chân, đánh  đập tàn nhẫn nhiều lần chết đi sống lại của  bọn quỷ dữ gọi là quản  giáo và cuối cùng anh đã đi đến bến bờ tự do đã  lan truyền trong cộng  đồng tù nhân chính trị của chúng tôi mặc dù tin rỉ  tai tương đối dè  dặt. Nhưng đó là một ánh sáng đã soi qua con đường hầm  nhỏ về ý niệm  thế nào người tù nhân chính trị của chế độ  cộng sản phải  làm.


Chi tiết về việc vượt  thoát của anh Dương Phục còn nhiều tình tiết  hấp dẫn, vào thời điểm đó  những người tù của chúng tôi suy diễn theo  tính cá nhân, nhưng cuối  cùng vẫn đồng nghĩ anh Dương Phục chắc là con  của Chúa nên được nhiều  Linh mục và giáo dân che chở trong lúc vượt thoát. Một đặc điểm mà cũng  là nguyên nhân chính để anh thoát tù ngục là  phần lớn do sự thông minh,  sáng suốt của người vợ anh là chị Vũ Thanh Thủy. Người đã phối trí cho  cuộc đào thoát của anh. Nhưng làm thế nào anh rời khỏi conex trong lúc  anh đang bị còng? Những người tù chúng tôi phải thắc mắc lâu dài vào  những năm sau đó. Và bây giờ, yếu tố then chốt  đó đã được giải rõ qua  quyển hồi ký vượt thoát của anh.


Tôi biết anh Dương Phục  một vài lần khi đội tù lao động của chúng  tôi cùng đi lao động với đội  của anh trên cánh đồng Cẩm Mỹ. Tôi không  nhớ rõ lắm, dường như anh ở  trại D14. Trại tù này cách trại D12 của tôi  không xa nên chúng tôi có  thể dùng mắt thấy được sinh hoạt tổng diện mỗi bên.


Như nói trên, sự đào thoát  của anh Dương Phục thời điểm đó ít nhiều  làm cho những người tù của  chúng tôi có một sự trăn trở ý thức rõ rệt.  Cho nên sau này cũng có  nhiều cuộc trốn trại tiếp diễn xảy ra ngay vào  lúc đang lao động ngoài  nương rẫy. Có người thoát và cũng có người bị  bắt lại và thân thể cũng  chẳng còn nguyên với sự hành hạ của bọn vệ binh  và quản giáo.


Đầu năm 1979, hàng tuần  tôi không còn đi nhận hàng thực phẩm từ  những nhà thầu cung cấp do  những chiếc xe hơi chạy bằng than mang đến  nữa. Tôi được “biên chế” ra  đội lao động trở lại. Hàng ngày đội tù của  chúng tôi phải quần quật  dưới cái nắng tháng giêng của vùng đất đỏ Cẩm Mỹ - Cẩm Đường. Chúng tôi  trồng hàng chục mẫu khoai mì, khi chúng tôi  đói lại không có khoai mì  để ăn. Thay vào đó chúng tôi phải ăn bo bo và  bắp.


Một lần, anh đội trưởng  HKL phân bố anh D anh N và tôi đi vác cây mì ở nhà người dân. Theo giữ  chúng tôi là một anh vệ binh trẻ, khi vào nhà nơi lấy cây mì anh gặp cô  con gái của ông chủ nhà anh mải mê tán tỉnh cho nên ba anh em chúng tôi  sinh tình bàn với nhau về “kế hoạch vượt thoát”. Anh N là lớn tuổi nhất  và cho biết nhiều về tin tức bên ngoài.  Anh quả quyết rằng hiện vẫn còn  có những người anh em Chiến sĩ VNCH vẫn  còn ẩn núp trong những khu vực  rừng già giáp với biên giới Campuchia và Việt Nam cũng như Lào, mà bọn  Việt cộng gọi là “tàn quân”. Nếu chúng ta vượt thoát được sẽ gia nhập  với những chiến sĩ rất dễ dàng, bởi vì chúng  mình là tù vượt trại. Bằng  chứng là việc nổ súng đánh  nhau với bọn  việt cộng vừa qua ở xóm đạo  Cây Gõ mà hầu như những người tù ai ai cũng biết. Anh D thì nói về thực  trạng cán bộ ăn hối lộ và có sự việc làm giấy tờ giả để mỗi khi mỗi tù  nhân vượt ngục trót lọt sẽ được vượt biên ra nước ngoài. Và anh khẳng  định thân nhân của anh biết về vấn đề này.  Riêng tôi là người nhỏ tuổi  so với hai anh N và D.Tôi không biết nhiều về những sự kiện, nhưng mỗi  lần đi lao động tôi thường hay quan sát cách thức gìn giữ tù nhân của  bọn vệ binh, đặc biệt và những con đường có thể an toàn khi vượt thoát.  Trong khi ba anh em chúng tôi có thời gian trao đổi ý tưởng, thình lình  tên vệ binh trẻ xuất hiện hắn đưa đôi mắt  liếc dọc liếc xuôi và hỏi  lớn: các anh làm gì chùm nhum như thế. Tại sao không đi vác cây mì mà  ngồi lì thế? Chúng tôi nói với hắn chúng tôi đã làm và mới vừa nghỉ. Hắn  quát to, các anh đứng dậy đi làm nha, mỗi anh từ giờ đến lúc ra về mỗi  người phải hai bó lớn nhé. Quát xong hắn lại đi thẳng vào nhà nơi có cô  gái có lẽ đang chờ hắn.


Hết ngày lao động, người  tù chúng tôi về trại. Ngày hôm sau, thay vì  đi lao động vác cây mì  trồng như thường lệ. Ba chúng tôi bị “biên chế”  làm việc khuân vác gạch  ngoài trại do nhà thầu cung cấp bằng xe nơi một  bãi đất trống cách  trại khoảng 200 mét. Mục đích của họ là xây dựng một  lò bánh mì ở ngoài  “khung”.


Chính nhờ làm công việc  này, nên chúng tôi tiếp xúc được với người  dân bên ngoài. Chúng tôi  không bỏ lỡ cơ hội khai thác thêm nhiều tin  cung cấp cho ý tưởng trốn  trại của chúng tôi. Nhiều nhân công bốc xếp gạch, họ là người của  địa  phương nên họ rất am tường về tình hình ở nơi vùng họ cư ngụ, đồng  thời  họ cũng biết rất nhiều về những tin tức chiến sự. Họ cho biết, cách   vài tháng lính đồ bông của VNCH đã vào vùng Cây Gõ và đã giao tranh với   bộ đội trấn giữ ở đây họ đã bắn chết rất nhiều bộ đội. Họ cũng hy sinh   một ít người. Một nhân công nói: chú tôi trước là trung úy đại đội   trưởng lính Địa Phương Quân thuộc Tiểu khu Long Khánh, sau ngày 30  tháng  tư năm 1975, ông không về nhà và gia đình xem như mất tích đến  giờ.  Nhưng thời gian sau đó, gia đình biết chú vẫn còn sống và vẫn còn  chiến  đấu ở một nơi nào trong địa bàn các tỉnh miền Đông.


Lần sau cùng, công tác  chuyển gạch vào “khung”, theo giữ toán tù  chúng tôi là một anh vệ binh  người miền Bắc tên M trông anh có vẻ cởi mở và có ý muốn tìm hiểu về  Saigon. Anh N đã tiếp cận nói chuyện với anh về cuộc sống người dân ở  Saigon trước năm 1975. Anh dường như đã hiểu phần nào và sau đó cho biết  rằng anh cũng có người bà con di cư năm 1954 hiện nay người thân của  anh ta đang ở Hố Nai.


Cũng lần chuyển gạch này,  anh D không biết bằng cách nào đã móc nối được với anh bộ đội này. Anh  ta cho biết anh cũng không còn được cấp trên của anh đưa đi giữ toán  chuyển gạch vào “khung" nữa vì yêu cầu đã xong. Anh sẽ nhận công tác mới  làm vệ binh cho toán chặt cây rừng làm củi. Các anh nào vào đội chặt  cây sẽ gặp anh ta.


Cũng thật may ba anh em  chúng tôi hết chuyển gạch được “biên chế” vào toán chặt cây làm củi.  Toán này, lấy một phần ba số người của một đội ước lượng khoảng 15  người. Theo canh chừng toán gồm một anh cán bộ “khung" và một vệ binh.  Ba ngày đầu cho công tác chặt cây, chúng tôi không thấy anh vệ binh  người Bắc tên M đi canh giữ mà lại là những vệ binh khác. Anh D nôn nóng  vì có lẽ anh muốn gặp anh vệ binh M để tìm hiểu thêm hoặc khai thác một  số tin tức hoặc nhờ vả hay lợi dụng những gì mà chính anh mới hiểu, còn  anh N và tôi không hề biết.


Đến ngày thứ năm trong lao  động chặt cây rừng, chúng tôi đã nhận ra  anh khi anh cùng một cán bộ  trong khung nhận toán chặt cây chúng tôi và  hướng dẫn chúng tôi vào  cánh rừng phía Đông Cù Bị, Cẩm Mỹ. Trong lúc giải lao anh D trong nhóm  của chúng tôi đã tiếp xúc được anh vệ binh M.  Ngồi gần tôi và anh N  thấy được anh D và anh vệ binh M hút thuốc và trao  đổi qua lại . Tôi  nghĩ là anh D đã thật sự móc nối được anh vệ binh M bằng đường đút lót  tiền bạc và hứa hẹn khi anh chàng vệ binh có dịp về Saigon thì nên ghé  qua gia đình của anh D để nhận những gì hai người đã hứa với nhau. Anh D  đã cho tôi và anh N biết giờ L đêm P vệ binh M có ca  gác trên lô cốt  trước cổng ra vào trại. Và máy phát điện ở ngoài  “khung” bị hỏng chưa  có thợ sửa chữa. Cả 3 chúng tôi nắm bắt tin tức này và phác họa kế hoạch  hành động vượt thoát. Thực ra chúng tôi đã chuẩn bị từ thời gian trước  khi còn ở trong toán vác cây khoai mì. Đêm ngày P đã đến. Đúng giờ L  chúng tôi thực hiện kế hoạch như đã định. Trên vọng gác trước cổng trại,  chúng tôi nghe tiếng xì xào của vệ binh đổi ca gác, anh D dùng tay quẹt  lỗ mũi như ra dấu cho chúng tôi tiến hành. Chúng tôi đồng loạt quan sát  những anh em cùng tù để cảnh giác và lần lượt  từng người ra nơi hố xí  (trại này hố xí nằm trong vòng rào của trại) giả vờ như đi đại tiện để  đánh lừa anh em tù cùng láng. Lợi dụng không có đèn hàng rào, anh D đã  dùng kềm cắt kẽm gai cắt gọn 3 vòng kẽm (kềm cắt  kẽm đã được cất giấu  mấy ngày trước nơi vị trí ấn định) và anh dùng tay vạch lỗ chui ra ngoài  tiếp theo anh N và sau cùng là tôi. Khi ra khỏi  vòng rào. Chúng tôi  núp dưới một mương rồi bò ra ngoài đám cây lau sậy và chúng tôi đi thẳng  về hướng Cù Bị - Cẩm Mỹ. Khi đến vườn cao su Cẩm Mỹ chúng tôi ước lượng  khoảng 4 giờ sáng vì nghe được tiếng gà gáy từ những ấp kinh tế xa vọng  về. Lúc này, chúng tôi cũng không nghe động binh gì từ trại giam. Ba  chúng tôi đi dọc theo đường mòn mà trước đây chúng tôi đã có nhiều lần  đi vác củi cho trại. Đến gần sáng chúng tôi chưa ra khỏi khu vực Cẩm Mỹ.  Chúng tôi thấy một vài người dân (chắc là ở  địa phương) lên rẫy sớm.  Sợ bị phát giác chúng tôi nằm rạp xuống dưới con rạch không có nước để  tránh họ. Khi họ đi qua chúng tôi bắt đầu đi tiếp và tìm đường lên miệt  Cây Gáo. Trời đã sáng hẳn, chúng tôi nghe ồn ào tiếng xe máy quyện theo  gió từ xa đồng thời cùng tiếng súng nổ râm ran từ hướng trại giam. Chúng  tôi dự đoán rằng họ đã phát giác sự trốn trại của chúng tôi. Theo sự  chỉ dẫn của anh lơ xe (như sự tiếp xúc mỗi lần vác gạch trước đây) thì  chúng tôi chỉ còn có nửa cây số nữa là chúng tôi đến được vùng Cây Gáo  mà nơi đó sẽ còn có những anh chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa hiện còn đang  chiến đấu. Chúng tôi cố gắng đi nhanh hướng đến mục tiêu. Tiếng súng mỗi  lúc mỗi gần và tiếng la ó của vệ binh cũng như tiếng hỏi thăm người dân  của nhóm vệ binh truy tìm ngày càng gần. Ba chúng tôi quyết tìm chỗ ẩn  náu. Chúng tôi lao vào trong nương rẫy của người dân đã bỏ hoang không  biết từ lúc nào nhưng cây cối mọc um tùm cao khỏi đầu trông giống như  một cụm rừng chồi. Và mỗi người mỗi nơi để lánh nạn. Tôi chọn một nơi có  hốc đá và dây mây rừng phủ trên chằng chịt người khó trông thấy. Còn  hai anh D và N không biết tản nơi nào, nhưng tôi đoán là cũng đâu đấy  gần đó.


Trời đã xế chiều,tôi không  nghe tiếng ồn ào của nhóm vệ binh truy  tìm. Tôi tự suy nghĩ có lẽ họ  không truy tìm nữa là vì họ nghĩ chúng tôi đã thoát ra khỏi địa phận  quản lý của họ rồi. Bây giờ họ chỉ đón bắt chúng tôi từ các chốt gác  trên tuyến đường xe về thị xã học thành phố.  Họ sẽ ra sức chặn nơi  những chốt chặn.


Nằm trong bụi rậm, con sâu  mây bò đầy đôi khi leo lên cả người,  nhưng ít khi dám nhúc nhích sợ  gây tiếng động. Nhìn ra ngoài thấy một số nương dân phần lớn là gái đang  đi tìm một loại dây gì tôi không thể  được biết, họ nói nói cười cười  trông rất tự nhiên. Có những cô gái chỉ  độ tuổi mới 15 tay cầm một cái  dao dài chặt một số dây leo gần bên chỗ  tôi trú ẩn. Tôi sợ các cô gái  ấy thấy tôi nên cố thu người trọn trong đám dây mây mặc cho mấy con sâu  tự do bám trên đầu trên cổ.


Trời đã gần chiều, đám các  cô gái không còn lẩn quẩn quanh chỗ tôi  trú ẩn, tôi vươn mình dậy để  gãi ngứa và gạt mấy con sâu ra khỏi người.  Tôi nghe tiếng động đậy từ  một cụm mây gần đó, tôi vươn mắt nhìn qua  thấy anh D đang lửng thửng đi  về hướng tôi đang trú. Tôi cố quan sát một  lần nữa thật kỹ vì sợ rằng  mắt của mình bị quáng gà bởi sự lo sợ. Thật rồi, đúng anh D. Tôi lao ra  và gọi nhẹ tên anh. Anh mừng và hỏi anh N đâu, tôi trả lời không biết.  Anh D và tôi đi một đoạn trong đám rừng chồi đến một cụm cây leo trên  mõm đá thấy có tiếng động. Hai chúng tôi nằm sụp xuống quan sát chúng  tôi thấy một người trung niên từ từ bước ra từ đám dây leo phủ kín. Nhìn  thật kỹ đúng là anh N. Chúng tôi tiến đến và cả ba họp lại tính kế  hoạch là chờ đêm về sẽ đi tiếp đến vùng Cây Gáo như dự tính.


Đêm về, chúng tôi tôi bắt  đầu định hướng và thẳng tiến đến vùng Cây Gáo. Chúng tôi dự kiến sẽ đến  đó trước 9 giờ đêm bởi từ chỗ chúng tôi trú ẩn đến đó ước lượng chỉ còn  nửa cây số nếu là ban ngày đi khoảng nửa tiếng đồng hồ, ban đêm thì mất  thời gian hơn. Nương theo đường mòn ba chúng tôi tiến bước. Trời về đêm  không khí rừng nghe u tịch hơn đôi khi  cũng nghe rợn người vì sợ thú  rừng. Chúng tôi đi khá nhanh bởi những vùng này đều có mặt chúng tôi mỗi  khi lao động chặt củi đốn tre, có thể nói là gần như quen thuộc đường  sá.


Chúng tôi đi gần một tiếng  đồng hồ và theo lời anh lơ xe hướng dẫn lúc trước khi đến ngã ba đường  mòn rẽ trái sẽ vào được đám rừng cây chằng chịt mà người dân địa phương  gọi là rừng cấm. Y theo lời hướng dẫn, chúng tôi sẽ đến được ngã ba  đường mòn chỉ cần rẽ trái vào được trong khu rừng âm u gọi là “rừng cấm”  như mục đích của chúng tôi mong muốn. Thế nhưng chúng tôi mới vừa tới  đến ngã ba chúng tôi nghe tiếng  động xì xào. Chúng tôi vội nằm mọp  xuống dùng ánh sáng nền đất để quan sát thì thấy rõ ràng là một chiếc xe  tăng M113 của việt cộng đang nằm chình ình vào lối rẽ trái vô rừng cấm.  Chúng tôi chưa kịp đứng lên để thoát thì hai tên Việt cộng cầm 2 khẩu  AK 47 dí vào đầu 3 chúng tôi và bắt đem về chiếc xe tăng. Bọn chúng cho  vào mỗi người chúng tôi vài bá súng đau thấu xương tủy. Chúng khai thác  biết chúng tôi là tù trốn trại nên đã gởi chúng tôi về lại trại.


Khi bị giải giao về trại  mỗi anh em chúng tôi bị hành hạ không thương tiếc. Ba chúng tôi được  nhốt trong 3 chiếc conex khác nhau và bị đánh liên tục. Họ xích chúng  tôi với những sợi dây cáp to trong thành conex và đem ra tra khảo thường  xuyên. Trong thời gian hơn nửa tháng bị nhốt trong conex và hành hạ  thân xác . Chúng tôi chỉ nghĩ chết còn sướng hơn. Mỗi ngày đều 2 cữ đánh  đập với những tên cán bộ khác nhau. Kết quả  anh D đã bị gãy một chân  trái. Anh N xệ một cánh tay và một phần đầu bị dập nghe nói sau này anh  điên luôn và đã chết trong một trại giam khác.  Còn tôi dập cả vai lưng  phía sau và nát một phần bên mắt phải.


Ba chúng tôi không còn gặp  lại, sau khi ra khỏi conex. Tôi bị họ đưa đến trại giam Z30 D Hàm Tân  Thuận Hải. Nghe nói anh D thì bị đưa ra Bắc còn anh N bị đưa về trại  giam Chí Hòa.


Năm 1989, tôi có gặp lại  anh D ngay ở vườn cây trước Sở Ngoại Vụ thành phố Saigon, bởi vì khi  được tin Hoa Kỳ và chính quyền Cộng Sản Việt Nam đã thỏa thuận cho tù  nhân chính trị (cải tạo) được định cư tại Mỹ theo diện nhân đạo  (Humanitarian Operition) có tên chính thức là chương tái định cư phóng  thích đặc biệt tù nhân trung tâm cải tạo (Spicial Release  Reeducation  Center Detainee Resettlement Program).


Các người tù chính trị  thường tụ tập để trao đổi biết thêm tin tức của chương trình nên tôi có  dịp gặp lại anh. Tôi cũng nghe nói anh cùng gia đình đã qua định cư  ở Hoa Kỳ rồi, nhưng hiện nay tôi không liên lạc được và biết anh ở tiểu  bang nào.


Duy Văn Hà Đình Huy


bottom of page