top of page
Banner edge
Picture2.png

TÀI LIỆU / LINH TINH

CÁNH CHIM PHƯỢNG HOÀNG

Nguyên tác “Flight Of The Phoenix” / Vietnam Magazine)

Tác giả: William Wilson (Đại Tá Lục Quân HK hồi hưu) – Toàn Như chuyển ngữ

Liu Hau Sam Pic.jpg

Trong  chiến tranh VN, một mạng lưới bí mật và phức tạp của Việt Cộng đã từ  lâu tồn tại ở Việt Nam để cố chứng tỏ uy quyền của nó đối với dân chúng  qua sự khủng bố và đe dọa. Mạng lưới này được gọi là hạ tầng cơ sở Việt  Cộng (HTCSVC) nhằm để cung cấp những sự kiểm soát và chỉ đạo chính trị  cũng như quân sự của chúng tại các xã ấp.


Hạ tầng cơ sở Việt Cộng đã cung cấp nơi ẩn náu cho các cán binh xâm nhập đến từ các mật khu ở biên giới, nó cũng cung cấp những sự hướng dẫn  cùng những tin tức tình báo cho các tân binh Bắc Việt vào Nam lần đầu  tiên; đồng thời nó cũng còn thu thuế, khủng bố và tuyển mộ các thanh  niên cho các lực lượng võ trang của nó. Trong năm 1969, quân khủng bố  (VC) đã giết hại hơn 6,000 người, trong số đó có 1,200 người đã được  chúng lựa chọn để ám sát. Ngoài ra còn có khoảng 15,000 người đã bị  chúng gây thương tích. Trong số những người bị giết có khoảng 90 xã  trưởng và các viên chức xã, 240 người là trưởng ấp và các viên chức ấp,  229 người là dân tị nạn (từ địa phương khác tới) và 4,350 thường dân.


Trong khoảng thời gian từ cuối năm 1963, sau vụ đảo chánh Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, đến khoảng giữa năm 1965 với  sự xuất hiện của các tướng lãnh, mọi cố gắng ngăn chặn chiến tranh của  Miền Nam Việt Nam dường như đã bị chậm lại bởi sự bất ổn chính trị.  Trong khoảng 19 tháng đó, những chương trình bình định xem ra cũng không  hoạt động và sự an ninh tại nông thôn lại càng trở nên tồi tệ hơn bởi  các HTCSVC đã biết lợi dụng sự bất ổn tại Sài Gòn. Cho đến năm 1965,  tình hình đã trở nên nghiêm trọng đến nỗi các giới chức Mỹ và Việt Nam  đã kết luận rằng, mọi cố gắng cho đến lúc đó – bao gồm các chương trình  bình định, các cuộc hành quân tiễu trừ phiến Cộng và công cuộc cải tổ  Quân Lực VNCH – chưa đủ để làm thất bại các hoạt động của cộng sản.


Tháng 3, 1966, Tổng Thống Lyndon B. Johnson chỉ định ông Robert W. Komer làm phụ tá đặc biệt tại Washington để hướng đẫn, phối hợp và giám  sát các chương trình không quân sự (mà ông gọi là một “cuộc chiến tranh  khác”).


Ðiều này đã chứng tỏ sự ưu tiên hàng đầu TT Johnson nhắm vào là sự bình định. Sau vài chuyến viếng thăm Việt Nam, Komer đã báo cáo rằng công cuộc bình định đang gặp bế tắc và đã đề nghị lên TT Johnson một số  biện pháp để giải quyết. Theo Komer, cách tốt nhất làm suy yếu Việt Cộng  là củng cố việc trợ giúp của Mỹ dưới một người quản lý duy nhất có  quyền hạn rộng rãi.


Ngày 29 tháng 6, 1967, cơ quan tình báo MACV (Bộ Chỉ Huy Quân Sự Mỹ tại Việt Nam) đã tóm tắt một bản nghiên cứu về chiến lược của địch. Bản nghiên cứu đã dựa trên sự phân tích những bản phúc trình các nguồn tin,  các báo cáo thẩm vấn và các tài liệu bắt được từ các hồ sơ lưu trữ của  Mỹ và QLVNCH. Nó cho thấy HTCSVC là một mối đe dọa cho việc chiến thắng  tại Việt Nam. Cũng trong năm đó, cơ quan tình báo CIA đã đề nghị tất cả  các cơ quan tình báo Mỹ phải chú tâm vào việc thu thập các tin tức về  HTCSVC ở các tỉnh, quận và Sài Gòn. Phượng Hoàng (Phoenix) (theo người  Tây phương, là tên một loại chim trong huyền thoại Ai Cập đã chết đi rồi  sống lại từ đống xác tro của nó) đã trở thành một ám danh cho một  chương trình nhằm vô hiệu hóa những hoạt động của địch.


Các giới chức tình báo Mỹ đã định nghĩa Phượng Hoàng như một nỗ lực nhằm hệ thống hóa việc phối hợp và khai thác các hoạt động tình báo. Thí  dụ như trước khi có kế hoạch Phượng Hoàng, một quận có thể có tới 11 mạng lưới tình báo về phía đồng minh hoạt động riêng rẽ. Một số nhà quan sát đã cho rằng quận hạt đã có số người đưa tin và mật báo viên cho phía đồng minh được trả lương nhiều hơn là số lượng HTCSVC chính qui đã  xâm nhập phải theo dõi.


Nhờ có chiến dịch Phượng Hoàng, tính đến tháng 6 năm 1970, đã có 91%  trên tổng số 10,944 ấp được coi là an ninh hay tương đối an ninh, và 7.2% đang còn tranh chấp, và chỉ có 1.4% được coi như là do Việt Cộng kiểm soát. Những con số đó đã chứng tỏ một sự suy giảm ảnh hưởng của  HTCSVC.


Không ai biết được đã có bao nhiêu Việt Cộng đã điều hành “cái được gọi” là chính quyền trong bóng tối (tức là chính quyền do Việt Cộng thiết lập trong những vùng nông thôn ở Miền Nam Việt Nam; thường được hiểu là Chính quyền về Ðêm), nhưng vào tháng 12, 1967, khi chương trình  Phượng Hoàng được tung ra, người ta ước lượng rằng có khoảng 80,000 cán  bộ trong đội ngũ HTCSVC. Ngay trong năm đầu tiên, mặc dù những cuộc tấn  công của Cộng Sản trong tháng 2 và tháng 5, 1968 (Tết Mậu Thân) Phượng  Hoàng đã loại bỏ gần 16,000 người khỏi những vị trí cơ sở của chúng.


Phượng Hoàng đã phối hợp sử dụng các nguồn tin từ các ủy ban tình báo  hỗn hợp của chính quyền các cấp cho tới cấp quận. Các cố vấn Mỹ, kể cả  CIA, đã tham dự trong nỗ lực gạn lọc các nguồn tin từ các mật báo viên,  các người cho tin, các tù binh và nhiều nguồn khác. Việc triển khai được  thực hiện bởi các đơn vị quân sự hay bán quân sự thi hành các nhiệm vụ  bí mật với các toán đơn vị nhỏ xâm nhập vào các vùng do Việt Cộng kiểm  soát, thường thường vào ban đêm.


Lúc ban đầu, Phượng Hoàng đã khuấy động sự nhiệt tình trong các người  Mỹ hơn là người Việt Nam. Một sĩ quan chiến trường Mỹ đã nói trong năm  1968 là: “Chúng tôi đã trải qua hàng tháng để đưa ra những kế hoạch,  những cố vấn, thiết lập các hồ sơ, các sự an toàn cho các tỉnh và quận –  để rồi các bạn đặt tên cho nó – Ðây là một chương trình của người Mỹ  chứ không phải là một nỗ lực của chính phủ Việt Nam.” Thế nhưng điều này  đã nhanh chóng chuyển đổi.


Trong một tỉnh gần Sài Gòn, dựa vào tin tức tình báo trong khoảng 2 tháng đã đưa đến việc bắt giữ hay ám sát 6 thành viên trong ủy ban HTCSVC cấp tỉnh, 3 thủ lãnh HTCSVC cấp quận, 9 viên chức HTCSVC cấp quận  khác và 31 cán binh xã ấp. Các cán bộ đã được huấn luyện, đặc biệt là ở  cấp tỉnh, muốn thay thế họ cũng không phải là chuyện dễ.


Tổng Thống Johnson đã ủy nhiệm cho Tướng Westmoreland, tư lệnh MACV,  kiểm soát cả hai lãnh vực dân sự và quân sự về bình định, và đồng thời  chỉ định Komer làm phó cho Westmoreland đặc trách về bình định. Komer  đứng đầu một cơ quan mới thành lập (từ tháng 5, 1967) được đặt tên là  Civil Operations and Revolutionary Development Support gọi tắt là CORDS  (cơ quan này chúng ta vẫn gọi là Cơ Quan Dân Sự Vụ Hoa Kỳ) để thống nhất  các nỗ lực về quân sự và dân sự trên mọi cấp.


Cộng Sản ở Việt Nam đã có nhiều năm kinh nghiệm trong những hoạt động  bí mật. Ðể đối phó với loại hoạt động này, chính phủ VNCH sau vụ tấn  công Tết Mậu Thân 1968, cũng đã triển khai một chương trình gọi là Phụng  Hoàng (cũng là tên một loài chim trong cổ tích Việt Nam có sức mạnh  huyền diệu). Bộ Lục Quân Mỹ đã đệ trình một bản phúc trình lên Thượng  Nghị Sĩ William J. Fulbright, chủ tịch Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện,  nói rằng:


“Phụng Hoàng là một kế hoạch của chính phủ Việt Nam nhằm mục đích tập  trung và phối hợp mọi nỗ lực của các cơ quan quân sự và dân sự nhằm vô  hiệu hóa các HTCSVC… Phụng Hoàng là một chính sách nhằm bảo vệ dân chúng  khỏi sự khủng bố… Nền tảng của chương trình là một cố gắng phối hợp đầy  đủ các hoạt động về tình báo của tất cả các cơ quan của chính phủ Việt  Nam và của Mỹ nhắm vào các HTCSVC với mục đích muốn vô hiệu hóa những  ảnh hưởng và sự kiểm soát của nó (HTCSVC) trên dân chúng.”


Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu công bố chương trình này vào ngày 1 tháng  7, 1968, ngay sau cuộc tổng tấn công của Việt Cộng vừa chấm dứt. Tuy  nhiên ông không nói cho biết rằng Phụng Hoàng chính là sự mở rộng chương  trình Phượng Hoàng của Mỹ. (Ghi chú: Người dịch dùng chữ Phượng Hoàng  để chỉ chương trình của người Mỹ để phân biệt với Phụng Hoàng là chương  trình của người Việt, mặc dù trong tiếng Anh cả hai đều là “Phoenix”)


Chính phủ Việt Nam đã qui định những mức độ khác nhau về sự tham gia  các hoạt động chính trị của Việt Cộng. Có 3 mức độ tham gia với những  hình phạt khác nhau đã được ấn định. Loại A là các đảng viên, các viên  chức địa phương hay cán bộ mặt trận quan trọng, sẽ nhận bản án là 2 năm.  Loại B là các cán bộ quan trọng ở một trong các ủy ban nòng cốt như thu  thuế hay tổ trưởng du kích, sẽ nhận bản án tối thiểu là một năm và tối  đa là 2 năm. Loại C hay các cảm tình viên cộng sản nói chung, các cán bộ  giao liên hay phụ tá hậu cần, hoặc là thành viên trong một tổ chức bán  quân sự, sẽ nhận một bản án không quá một năm. Hầu hết những người loại C  thường nhanh chóng được thả.


Chỉ tiêu do cơ quan CORDS đưa ra thường chỉ áp dụng cho loại A và B, chứ không áp dụng cho loại C. Các cố vấn Mỹ ước lượng có khoảng 20% các  nghi can bị kết án trong năm 1969 và chỉ một tỷ lệ nhỏ trong số đó nhận  bản án tối đa là 2 năm. Hầu hết họ chỉ bị án từ 3 đến 6 tháng.


Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã công khai hóa sự cần thiết của chương  trình này nhằm bảo vệ dân chúng khỏi sự khủng bố, và kêu gọi dân chúng  trợ giúp bằng cách cung cấp những thông tin cần thiết. Chương trình  Phượng Hoàng Mỹ (Phoenix Program) được đặt dưới sự điều hành của cơ quan  CORDS thuộc MACV. Người kế nhiệm Komer chỉ huy CORDS là Ðại sứ William  E. Colby kể từ ngày 6 tháng 11, 1968.


Ông Colby từng làm trưởng phòng CIA ở Sài Gòn. Sự hiểu biết của ông đối với công việc của cơ quan CORDS thật là tuyệt vời. Trong Thế Chiến II, ông là thành viên OSS đã từng nhảy dù xuống ngay sau phòng tuyến để  phối hợp hoạt động với các kháng chiến quân và hướng dẫn các cuộc hành  quân phá hoại ở Na-Uy và Pháp đang do Ðức chiếm đóng. Ông Colby sau này  đảm nhiệm chức vụ giám đốc CIA (tại Washington, D.C.).


Toàn bộ chương trình Phụng Hoàng (của VN) nhắm vào công việc bình định. Công việc này bao gồm cả chương trình Chiêu Hồi của VNCH đã bắt  đầu từ năm 1962. Ðây là một chương trình có tính cách ân xá nhằm làm suy  giảm lực lượng võ trang của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. Trong  năm 1969, đã có 47,000 cán binh Việt Cộng tự nguyện qui thuận chính  phủ, họ đã được chăm sóc y tế, giúp đỡ về kinh tế và huấn nghệ trước khi  được thả trở về đời sống dân sự hoặc được phép gia nhập vào quân đội  VNCH. Năm 1970, con số đó là 32,000 người.


Chiến dịch Phụng Hoàng không phải là một chương trình ám sát mà là một chương trình tình báo… được thực hiện theo luật thời chiến. Sự hướng  dẫn có đoạn nói: “Chương trình Phượng Hoàng (Phoenix Program) của Mỹ là  một sự cố vấn, yểm trợ và giúp đỡ cho chương trình Phụng Hoàng của  chính phủ Việt Nam nhằm làm giảm bớt ảnh hưởng và hiệu quả của các  HTCSVC ở Miền Nam Việt Nam… Các cuộc hành quân chống HTCSVC bao gồm công  việc thu thập tin tức tình báo để xác định lý lịch các thành viên kể cả  những người đã bỏ hàng ngũ Việt Cộng trở về với chính phủ, bắt họ hoặc  câu lưu họ để đưa họ ra trước một Ủy Ban An Ninh tỉnh để kết án theo  luật định, và biện pháp cuối cùng, là sử dụng lực lượng quân sự và cảnh  sát, nếu không còn cách nào khác, để ngăn ngừa họ thi hành các hoạt động  bất hợp pháp có thể xảy ra.”


Một trong những yếu tố gây nên tranh cãi nhất của chương trình Phượng  Hoàng là những chỉ tiêu về HTCSVC. Xuất hiện trước Ủy Ban Ngoại Giao  Thượng Viện vào năm 1970, Colby đã được hỏi: “Tiền có phải là động lực  kích thích người Việt Nam hoạt động cho chương trình hay không?” Ðại Sứ  Colby đã trả lời: “Tiền đó không dành cho những người Việt điều hành  chương trình. Ðó là những phần thưởng được đặt ra công khai về những cá  nhân nào đó đang bị truy nã. Có những bích chương và truyền đơn công bố  một người nào đó đang bị truy nã bởi vì nó là thành viên của hạ tầng cơ  sở và đã tham gia vào một hoạt động khủng bố và nếu tin tức được cung  cấp đưa đến việc bắt giữ người ấy thì chắc chắn sẽ được tưởng thưởng…  Tuy nhiên chính phủ Việt Nam đã cố gắng hết sức để có thể bắt sống hơn  là giết chết bởi vì người sống có nhiều tin tức trong đầu sẽ giúp chúng  ta được nhiều hơn trong tương lai.”


Ðược hỏi về những lý do đưa đến những con số HTCSVC bị giết hay bị loại ra khỏi cuộc chiến khá cao, Colby cho biết, “Trong năm 1969, con số bị bắt là 8.515 người, tái phối trí 4.832 người, và giết 6.187 người,  nâng tổng số lên tới 19.534 người, như vậy khoảng 30% trong số đó đã bị giết. Con số bị giết bao gồm cả số người đã bị giết rồi mới phát hiện họ  là những HTCSVC. Chẳng hạn, đã có những người bị giết trong một cuộc phục kích vào ban đêm ở ngoài một ngôi làng cùng với một số người có võ  trang, hay trong một cuộc giao tranh với một đơn vị du kích cộng sản.  Căn cứ vào các giấy tờ tùy thân, lúc đó người ta mới xác nhận được những  người bị giết chính là các HTCSVC. Mặc dù các cuộc hành quân không nhắm  vào họ lúc ban đầu…”


Báo Washington Post ra ngày 17 tháng 2, 1970, Robert G. Kaiser, Jr.  đã tường thuật buổi điều trần của Colby. Bài báo chỉ trích chương trình Phượng Hoàng, và đã mô tả chương trình như đã diễn tiến như sau: “Các văn phòng Phụng Hoàng ở 44 tỉnh và phần nhiều trong số 242 quận của Miền  Nam Việt Nam (tất cả đều có cố vấn Mỹ) đã lưu trữ những hồ sơ liên quan  đến các viên chức Việt Cộng trong vùng và cả một danh sách bí mật những  đàn ông và phụ nữ bị truy nã. Ngành Cảnh Sát Ðặc Biệt (đơn vị tình báo  của ngành Cảnh Sát Quốc Gia), các binh sĩ địa phương và các đơn vị Thám  Sát Tỉnh (Provional Reconnaisance Units, viết tắt là PRUs) gồm 18 người  đã thực hiện những cuộc hành quân bắt giữ những người bị truy nã này.  Những người bị bắt sẽ bị thẩm vấn. Khi có bằng chứng liên hệ với Việt  Cộng, họ sẽ bị đem ra xét xử trước Ủy Ban An Ninh Tỉnh. Những người bị  tình nghi cao hơn thì bị đưa ra Tòa Án Quân Sự Mặt Trận.” Bài báo còn  nói rằng, “Phụng Hoàng đối với nhiều người ở Mỹ, thường được coi như là  một Công Ty Ám Sát của Người Việt (Vietnamese Murder Inc.)”


Phụng Hoàng được điều hành ở địa phương, nơi mà các vấn đề thường khởi sự. Mỗi trung tâm hành quân và phối hợp tình báo quận có những toán, thông thường gồm có một sĩ quan Quân Báo VNCH, một cố vấn tình báo  Mỹ (thường là cấp úy), các nhân viên Cảnh Sát Ðặc Biệt và các cán bộ bình định địa phương để thu thập các tin tức tình báo và thiết lập các  hồ sơ về những người bị tình nghi là Việt Cộng trong phạm vi. Khi hồ sơ  được hoàn tất, kẻ tình nghi sẽ bị bắt giữ.


Dưới cấp quận là cấp xã. Chủ trương chính là nhắm vào cấp xã. Tính  đến năm 1969, 95% các xã đã có bầu cử xã trưởng và các Hội Ðồng Xã. Các chính quyền xã nắm quyền kiểm soát các lực lượng võ trang địa phương, bao gồm các Cán Bộ Phát Triển Nông Thôn, lực lượng Cảnh Sát, lực lượng  Nhân Dân Tự Vệ, và lực lượng Nghĩa Quân. Phần lớn các nhiệm vụ của  Phượng Hoàng ở cấp này được thi hành bởi các lực lượng nói trên.


Cũng có nhiều người bị tình nghi chỉ 1 hay 2 giờ sau khi bị bắt đã  được thả. Nếu kẻ bị tình nghi không được thả ở cấp địa phương, nó sẽ bị  giải đến Trung Tâm Thẩm Vấn tỉnh để thẩm tra và lập hồ sơ đưa ra trước  Ủy Ban An Ninh tỉnh, tại đây các bằng chứng sẽ được xem xét và kẻ tình nghi sẽ bị kết án hay được tha. Ở một vài nơi, bởi vì nhiều đơn vị tỏ ra kém hiệu quả trong việc thi hành nhiệm vụ này, các cố vấn Mỹ đã tin tưởng vào các đơn vị thám sát tỉnh để nhắm vào các mục tiêu HTCSVC.


Các đơn vị thám sát tỉnh có vẻ Mỹ nhiều hơn Việt Nam. Họ được tuyển mộ, huấn luyện, trả lương và điều hành bởi CIA; họ được huấn luyện kỹ như là những lính đánh thuê, được tuyển chọn từ những nhóm dân thiểu số  Việt Nam, như người Nùng, người Miên hoặc từ những cán binh Việt Cộng đã  ra đầu thú. Các đơn vị người nhái Hải Quân Mỹ làm việc với CIA thường  chỉ đạo những cuộc hành quân này. Các thành viên của các đơn vị này được  trả lương 15,000 đồng một tháng (trong khi 1 người lính thường chỉ được  lãnh có 4,000 đồng/tháng).


Cuối năm 1968, đơn vị CIA ở Sài Gòn thông báo cho cơ quan CORDS về dự định rút số nhân viên đang thi hành công việc cố vấn và điều hợp nhiệm vụ trong chương trình Phượng Hoàng. Cơ quan CORDS đã thay thế ngay lập  tức bằng các sĩ quan cấp úy đã có huấn luyện. Sự thay đổi này đã tái xác nhận tầm quan trọng của việc thu thập tin tức tình báo độc lập như là  nhiệm vụ cổ điển của CIA trong bất cứ tình huống nào có liên quan đến  lợi ích quốc gia của Mỹ ở hải ngoại. CIA đã tạo ra cái khuynh hướng đứng  ngoài các công tác chống nổi loạn.


Chương trình Phượng Hoàng Mỹ đã bất động khi Bắc Việt tung ra cuộc tấn công Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 1972, nhưng nó đã không ngưng hẳn hoạt động  mãi cho tới năm 1973. Trong nỗ lực của nó nhằm vô hiệu hóa các HTCSVC,  chương trình Phượng Hoàng đã sử dụng 450 nhân viên cố vấn quân sự Mỹ,  trong số đó 262 người đã phục vụ trong những cuộc hành quân then chốt  tại cấp quận. Theo Colby, chương trình Phượng Hoàng đã có kết quả là làm  rã ngũ 17.000 cán binh VC, bắt giữ 28.000 kẻ bị tình nghi và làm thiệt  mạng khoảng 20.000 người khác. Ông cũng nói rằng, 85% số người bị thiệt  mạng bởi trong khi giao chiến với các lực lượng quân sự và bán quân sự  của Việt Nam và Mỹ, trong số đó chỉ có 12% bị giết bởi các lực lượng  cảnh sát và an ninh. Con số 12% đó, hầu hết bị chết trong lúc giao  tranh, hay kháng cự lại sự bắt giữ.


Toàn Như (NĐT) 

(dịch từ Flight Of The Phoenix - Vietnam Magazine, số Tháng 2-1994)

bottom of page