top of page
Banner edge

Tháng Tư Đen có nhiều kỷ niệm đau thương uất hận để nhớ đời và để nhắc nhở đám hậu sinh.

Riêng chúng tôi không có cao vọng ấy, chỉ xin cống hiến bạn đọc một hồ sơ cũ:


Vụ 16 tấn vàng của Ngân  Hàng Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa mà cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu,  Người đã từng bị vu khống, cáo buộc là đã cuỗm ra ngoại quốc khi gia  đình ông phải lưu vong lúc Tháng Tư 1975.

Tối  21 Tháng Tư 1975, chiến trường Miền Nam Việt Nam sôi động. Do áp lực  nặng nề cả về mặt quân sự lẫn chính trị, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn  Thiệu đọc một bài diễn văn tố cáo Hoa Kỳ phản bội đồng minh, sau đó  tuyên bố từ chức.


Ngày 26/4/1975, ông Thiệu  bỏ nước, di tản sang Đài Loan. Ông Thiệu vừa rời khỏi nước, trong nước  rộn lên “những lời đồn đại từ ‘đài phát thanh Catinat’ quả quyết là “ông  Thiệu đã mang theo 16 tấn hàng gồm cả một bộ sưu tập đá quý và đồ cổ  đánh cắp ở Viện Bảo Tàng Quốc Gia và 4 tỉ vàng nén.”


Báo chí thiên tả ở Sài Gòn  lúc bấy giờ do bọn Cộng sản nằm vùng chiếm lĩnh đã không bỏ lỡ cơ hội  khai thác làm nhục chí chiến đấu các chiến sĩ quốc gia và gây hoang mang  trong quần chúng Miền Nam Việt Nam.


Sau ngày 30 Tháng Tư 1975,  CSVN tiếp tục kích động báo chí thổi phồng “huyền thoại” cựu Tổng thống  VNCH Nguyễn Văn Thiệu ăn cướp 16 tấn vàng chẳng những gây thêm công  phẫn lâu dài trong lòng người dân đối với cá nhân ông Thiệu, mà còn nhân  rộng lòng oán thù đối với chính thể VNCH.


Mãi đến 31 năm sau (năm 2006), bức màn bí mật về 16 tấn vàng mới hé mở.


Kẻ gian hùng giấu mặt và 16 tấn vàng


Báo Tuổi Trẻ ngày  26/4/2006 bắt đầu đăng một loạt phóng sự về vụ 16 tấn vàng mà người ta  rêu rao là đã bị ông Nguyễn Văn Thiệu, cựu Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa,  cướp đoạt, mang ra nước ngoài.


Loạt bài này làm sáng tỏ  một vấn đề: Không hề có chuyện ông Nguyễn Văn Thiệu hay bất cứ viên chức  nào của chính quyền VNCH chuyển 16 tấn vàng ra ngoại quốc!


Tờ báo ghi nhận: “16 tấn  vàng – đó là khoản tài sản dự trữ còn lại của chính quyền Sài Gòn vào  tháng 4/1975, trị giá khoảng 120 triệu đô-la Mỹ vào lúc đó, tức khoảng  320 triệu đô-la Mỹ thời điểm hiện nay”.


Tờ Tuổi Trẻ khẳng định:  “Không có chuyện 16 tấn vàng đã được đóng thùng sẵn (chờ chở đi) và lại  càng không có chuyện “số vàng ấy nằm ở sân bay khi quân của tướng Dũng  [Văn Tiến Dũng] tràn vào Tân Sơn Nhất”. 16 tấn vàng vẫn nằm nguyên vẹn dưới tầng hầm [kho dự trữ vàng quốc gia] ở số 17 Bến Chương Dương, Sài Gòn”…


Chiều 30-4-1975, sau khi  tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, trụ sở Ngân Hàng Quốc Gia  VNCH vẫn còn được bảo vệ nghiêm ngặt bởi các nhân viên ngân hàng và các  cảnh sát viên, dưới sự chỉ huy của một thiếu tá. Họ đã không rời vị trí  vì nhiệm vụ của họ là bảo vệ an toàn kho tiền và vàng dự trữ, không để  nó bị xâm nhập, cướp phá giống như nhiều tòa nhà và trụ sở lân cận. Họ  cố thủ trụ sở Ngân hàng cho đến khi bộ đội CS xuất hiện.


* Nhân Chứng thứ nhất: người tiếp nhận (Hoàng Minh Duyệt)


Người tường thuật chi tiết  về vụ 16 tấn vàng là Hoàng Minh Duyệt, chỉ huy phó đơn vị Cộng sản tiếp  quản Ngân hàng Quốc gia. Ông Duyệt nói: “Tôi chỉ biết được tầng hầm  chứa vàng ở đây khi tham gia nhóm kiểm kê. Nhóm kiểm kê lúc đó có tôi,  anh Lân và anh em trong đơn vị; về phía Ban kinh tài có anh Huỳnh Kỳ  Thanh, cô Tiếp… Về phía Ngân Hàng Quốc Gia có hai anh viên chức cũ ở đây  là anh Huỳnh Bửu Sơn và anh Lê Minh Kiêm”.


Ông Duyệt mô tả: “Tầng hầm  chứa vàng sáng choang, khá rộng, rộng đến mức có thể… đá bóng được.  Tiền và vàng được cất giữ trong những tủ sắt đặt trong các hầm. Mỗi cửa  hầm đều có ổ khóa riêng, sau lớp cửa đó là cửa hầm tự động với khóa bằng  mã số. Lần đầu tiên tôi thấy vàng nhiều như thế, thấy được những thỏi  vàng như thế. Tôi lại thấy nhiều loại đồng tiền vàng rất đẹp, rất lạ và  nghe nói rất quí, cả những cúc áo bằng vàng thật độc đáo”.


Ông Duyệt tâm sự: “Chúng  tôi nhìn rất thích nhưng chẳng ai “xơ múi” dù chỉ một đồng tiền vàng. Mà  thật ra không ai trong chúng tôi có ý nghĩ gì bậy bạ, bởi mọi người đều  rất vô tư và trong sáng. Cả những anh em viên chức cũ của ngân hàng  cũng vậy, như anh Huỳnh Bửu Sơn chẳng hạn”.


Báo Tuổi Trẻ cho biết  người giữ chìa khóa kho vàng lúc đó là ông Huỳnh Bửu Sơn – lúc bấy giờ  làm việc trong ban lãnh đạo Nha Phát Hành Ngân Hàng Quốc Gia. (Vào năm  2006 khi Tuổi Trẻ đưa lên loạt bài phóng sự này thì Huỳnh Bửu Sơn đang  là giám đốc đối ngoại Pepsi Co. tại Việt Nam).


* Nhân Chứng thứ hai: người bàn giao (Huỳnh Bửu Sơn)


Huỳnh Bửu Sơn kể: “Vào đầu  tháng 6-1975, tôi được lệnh của Ban Quân quản Ngân Hàng Quốc Gia tiến  hành kiểm kê kho tiền và vàng của chế độ cũ, các kho tiền và vàng của  Ngân Hàng Quốc Gia thuộc quyền quản lý của Nha Phát Hành, nơi tôi làm  việc trong ban lãnh đạo từ năm 1970 với tư cách là kiểm soát viên. Anh  giám đốc Nha Phát Hành đã đi cải tạo tập trung, do đó trong số người còn  ở lại chỉ có tôi là người giữ chìa khóa và anh Lê Minh Kiêm – chánh sự  vụ – là người giữ mã số của các hầm bạc.


“Đại diện Ban Quân quản là  một cán bộ đứng tuổi, khoảng 50. Cùng tham gia với ông trong suốt quá  trình kiểm kê là một anh bộ đội còn rất trẻ, trắng trẻo, đẹp trai và rất  thân thiện. Sau này tôi mới biết tên anh là Hoàng Minh Duyệt – chỉ huy  phó đơn vị tiếp quản Ngân Hàng Quốc Gia”.


Bài báo ghi tiếp: “Theo  ông Sơn, số vàng đúc lưu giữ tại kho của Ngân Hàng Quốc Gia vào thời  điểm đó gồm vàng thoi và các loại tiền vàng nguyên chất.


“Tất cả những thoi vàng  đều là vàng nguyên chất, mỗi thoi nặng 12-14kg, trên mỗi thoi đều có  khắc số hiệu và tuổi vàng (thường là 9997, 9998). Các thoi vàng được cất  trong những tủ sắt có hai lớp khóa và được đặt trên những kệ bằng thép.


Ông Huỳnh Bửu Sơn còn xác  nhận: “Các đồng tiền vàng được giữ trong những hộp gỗ đặt trong tủ sắt.  Đó là những đồng tiền vàng cổ có nhiều loại, được đúc và phát hành từ  thế kỷ 18, 19 bởi nhiều quốc gia khác nhau… Ngoài giá trị của vàng  nguyên chất, các đồng tiền này còn được tính theo giá trị tiền cổ, gấp  nhiều lần giá trị vàng nội tại của nó.


“Cuộc kiểm kê kết thúc, ai nấy đều vui vẻ thấy số lượng tiền vàng kiểm kê đều khớp với sổ sách từng chi tiết nhỏ”.


* Nhân chứng quan trọng thứ ba: Lữ Minh Châu


Trên đây chỉ mới là chứng  từ của hai viên chức cấp nhỏ và lời nhận định của một luật sư. Báo Thanh  Niên phát hành ngày 03/10/2006 trong bài “Trở lại câu chuyện 16 tấn  vàng ngày 30/4/1975”, có nêu ra nhân chứng thứ ba là Lữ Minh Châu, bí  danh Ba Châu. Ông Châu là người, “ngày 30/4/1975, với tư cách Trưởng ban  Quân quản các Ngân hàng Sài Gòn – Gia Định, đã tổ chức tiếp quản toàn  bộ tiền, vàng của chế độ Sài Gòn cũ”.


Năm 1986, ông làm Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước (nay là Thống đốc), chức vụ tương đương với chức Bộ trưởng.


Hoàng Hải Vân, phóng viên báo Thanh Niên, đã thực hiện một cuộc phỏng vấn với ông Lữ Minh Châu.


Trước khi nêu câu hỏi, nhà  báo đặt vấn đề: “Chuyện Tổng thống chính quyền Sài Gòn cũ Nguyễn Văn  Thiệu mang theo 16 tấn vàng hồi đó được báo chí loan tin, sau này người  nói có người nói không. Gần đây BBC lại đề cập đến thông tin này. Mới  đây nhất, báo Tuổi Trẻ có một loạt bài dẫn lời các nhân chứng nói rằng  không có chuyện đó. Nhưng cho đến nay vẫn chưa có thông tin chính thức  từ phía Nhà nước về vấn đề này.


Anh Phóng viên hỏi ông  Châu có chuyện đó không. Ông Châu đáp: “Hoàn toàn không có. 16 tấn vàng  vẫn còn nguyên vẹn trong kho của ngân hàng.”


PV lại hỏi: “Nguyễn Văn Thiệu không lấy vàng đi, tại sao lâu nay Nhà nước mình không nói lại cho rõ?”


Ông Châu đáp: “Mình biết  rất rõ là số vàng đó vẫn còn, đã được kiểm kê cẩn thận và đưa vào tài sản quốc gia, nhưng không đính chính vì đó là tin đồn đăng trên báo chí, có ai đặt câu hỏi chính thức với Nhà nước đâu”.


Rõ ràng là ngụy biện! Đâu  phải đợi có người “đặt câu hỏi chính thức” mới đính chính! 16 tấn vàng!  Một khối tài sản khổng lồ của đất nước, một chiến lợi phẩm cực kỳ to  lớn!


Im lặng để mặc “tin đồn  đăng trên báo chí” hẳn phải có hậu ý! Hậu ý gì thì không rõ, nhưng khi  thiên hạ đinh ninh rằng thằng chạy là thằng ăn cắp, thì cái thằng nắm  quyền chủ kho kế tiếp tất tự tung tự tác, ngốn hết miếng ngon, món bở…  Có ai bắt tội thì cứ thằng ăn cắp trốn chạy kia mà truy, nào liên can gì  tới cái thằng mới tiếp nhận chìa khóa kho này!!!


* Một luật sư ở VN nhận định


Phản hồi loạt bài phóng sự  của Tuổi Trẻ, Luật sư Lê Công Định trình bày nhận định của ông qua bài  viết “Liệu có vụ tham nhũng kinh khủng nào theo kiểu PMU 18 đối với 16  tấn vàng hay không?”


Ông luật sư đặt vấn đề:


“Câu chuyện thêu dệt, bất  kể vì dụng ý gì, về việc cựu Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu “đánh cắp”  16 tấn vàng, đã kết thúc. Người trong cuộc đã được giải oan, ít nhất ở  khía cạnh tham nhũng và ăn cắp của công.”


Vâng! Người trong cuộc, cựu Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, kẻ bị gán tội cướp đoạt tài sản quốc gia, nay được giải oan.


Cũng giống như luật sư Lê Công Định, người dân không còn thắc mắc về ông Thiệu, nhưng vẫn phân vân về số phận của 16 tấn vàng:


“Sau 1975 toàn bộ 16 tấn  vàng đó đã được sử dụng như thế nào? Lẽ nào số trữ kim to lớn ấy không  giúp ích gì cho quốc gia để đến nỗi 10 năm sau 1975 nền kinh tế đất nước  phải rơi vào khủng hoảng liên tục và đồng tiền mất giá không kìm hãm  được?”


Từ đó, chắc chắn nhiều  người dân đồng ý với nhận định của Luật sư Định rằng 16 tấn vàng ấy đã  rơi vào túi kẻ tham nhũng sau 30/4/1975. Người ta cũng tán thành lời Ls  Định cảnh báo:


“Kẻ tham nhũng  tất nhiên có thể đã xa chạy cao bay để tránh né sự trừng phạt của luật  pháp, song như một định mệnh ở khắp nơi, nhân dân và lịch sử rồi cũng sẽ  lôi tuột họ trở lại để đòi hỏi công lý dù sau 10, 20 hay 30 năm chăng  nữa! Đời cha không trả thì đời con phải trả. Lưới trời lồng lộng”.


Trở lại cuộc phỏng vấn của báo Thanh Niên với ông Lữ Minh Châu.


Phóng viên hỏi ông Châu:


- Khi tiếp quản, liệu tiền, vàng có bị thất thoát không


Ông Châu trả lời:


– Theo tôi thì không thể. Ngân hàng của chính quyền cũ quản lý rất chặt, ta cũng chặt.


Hỏi:


– Số vàng đó sau này đi về đâu?


Đáp:


– Nó trở thành tài sản  quốc gia, được quản lý theo luật pháp của chính quyền cách mạng, sau đó  là của Nhà nước Việt Nam thống nhất.


Quản lý theo luật pháp của  chính quyền cách mạng ư? Chính quyền cách mạng sau 30/4/1975 tại Miền  Nam Việt Nam làm gì có luật pháp!


Mặt khác, cái "chính quyền" ấy không  những chỉ lấy được vàng và tiền trong Ngân Hàng Quốc Gia VNCH, mà còn  thu hồi “hơn 100 triệu USD, tiền gửi của ngân hàng cũ ở nước ngoài” như ông Lữ Minh Châu tiết lộ.


Số tiền này, dân cả nước  sau 30/4/1975 chẳng hề nghe biết, mãi sau hơn 3 thập niên mới nghe ông  Lữ Minh Châu đề cập đến, nghĩa là làm sao?


Vả lại, khi bảo rằng “chính quyền cũ quản lý rất chặt, ta cũng chặt,” phải chăng ông Lữ Minh Châu muốn chơi chữ?


Chúng ta thử đọc kỹ lại câu: “Chính quyền cũ quản lý rất chặt, ta cũng chặt.”


Thâm thúy lắm! Ông Lữ Minh  Châu đâu dám nói “ta cũng QUẢN LÝ RẤT chặt, chặt như chính quyền cũ.”  Phải chăng ông Châu biết rõ chuyện “hậu trường” nhưng không dám bộc  bạch? Để mặc ai muốn hiểu sao hiểu! Hay là ông có ngụ ý nói: Vàng và  tiền ấy là "chiến lợi phẩm"! Phe TA CHẶT rồi! Chôm rồi! Chỉa hết rồi!  Chia chác cả rồi! Đừng ai thắc mắc về cái chuyện 16 tấn vàng và hơn 100  triệu đô-la của thời 30/4/1975 nữa! Lịch sử đã sang trang !!!???


Lê Thiên

----------------------------------------

Nhân chứng Huỳnh Bửu Sơn: Bọn Việt cộng chóp bu Hà Nội ăn cắp chia chác 16 tấn vàng tài sản quốc gia VNCH.


Kể Lại Về 16 Tấn Vàng VNCH 2 Ngày Kiểm Kê, Giao VC Giữ:


Câu chuyện thật về 16 tấn  vàng đầy huyền thoại của Kho Bạc VNCH đã được tiết lộ bởi chính người ký  giấy bàn giao, theo một bài viết trên tờ Tuổi Trẻ hôm Thứ Hai.


Bài viết nhan đề “Câu  chuyện 16 tấn vàng tháng 4-1975 — Kỳ cuối: Người giữ chìa khóa kho vàng”  của ông Hùynh Bửu Sơn đã nói rõ về chuyện bàn giao kho tàng.


Tác giả được giới thiệu  như sau: “Người giữ chìa khóa kho vàng lúc đó là ông Huỳnh Bửu Sơn – làm  việc trong ban lãnh đạo Nha Phát hành Ngân hàng Quốc gia…”


Bài viết trên tờ Tuổi Trẻ  trích đoạn như sau:“… Những ngày đầu tháng 5-1975, tôi vào trình diện  tại Ngân hàng Quốc gia ở 17 Bến Chương Dương, thủ đô Sài Gòn cùng các  đồng nghiệp khác, chỉ thiếu vắng một vài người. Chúng tôi được lệnh của  Ban Quân quản Ngân hàng Quốc gia là chờ phân công tác. Trong khi chờ  đợi, mỗi ngày mọi người đều phải có mặt tại cơ quan…. Tôi đến trình diện  tại Ngân hàng Quốc gia và được phân công tác tại Vụ Phát hành và kho  quĩ. Những ngày tiếp theo, Ban Quân quản tổ chức học tập tại chỗ ba ngày  cho các viên chức ở lại và cấp giấy chứng nhận học tập cải tạo. Lúc đó,  giấy chứng nhận này chính là một lá bùa hộ mệnh…. Lần kiểm kê cuối cùng


Vào đầu tháng 6-1975, tôi  được lệnh của Ban Quân quản Ngân hàng Quốc gia tiến hành kiểm kê kho  tiền và vàng của chế độ cũ, các kho tiền và vàng của Ngân hàng Quốc gia  thuộc quyền quản lý của Nha Phát hành, nơi tôi làm việc trong ban lãnh  đạo từ năm 1970 với tư cách là kiểm soát viên. Anh giám đốc Nha Phát  hành đã đi cải tạo tập trung, do đó trong số người còn ở lại chỉ có tôi  là người giữ chìa khóa và anh Lê Minh Kiêm – chánh sự vụ – là người giữ  mã số của các hầm bạc.


Việc kiểm kê kho tiền và  vàng là việc chúng tôi làm thường xuyên hằng tháng, hằng năm nên cảm  thấy không có gì đặc biệt. Chỉ có một điều là tôi biết lần kiểm kê này  chắc chắn là lần kiểm kê cuối cùng đối với tôi, kho tiền và vàng sẽ được  bàn giao cho chính quyền mới. Tôi không lo âu gì cả vì biết chắc rằng  số tiền và vàng nằm trong kho sẽ khớp đúng với sổ sách.


Trong những ngày hỗn loạn,  các hầm bạc của Ngân hàng Quốc gia vẫn được chúng tôi quản lý một cách  tuyệt đối an toàn. Cần nói thêm là các hầm bạc được xây rất kiên cố với  hai lớp tường dày, mỗi lớp gần nửa thước, các cửa hầm bằng thép có hai ổ  khóa và mật mã riêng, được thay đổi định kỳ, mỗi cửa nặng trên 1 tấn.


Đại diện Ban Quân quản là  một cán bộ đứng tuổi, khoảng 50. Cùng tham gia với ông trong suốt quá  trình kiểm kê là một anh bộ đội còn rất trẻ, trắng trẻo, đẹp trai và rất  thân thiện. Anh hay nắm tay tôi khi trò chuyện. Sau này tôi mới biết  tên anh là Hoàng Minh Duyệt – chỉ huy phó đơn vị tiếp quản Ngân hàng  Quốc gia. Số vàng đúc lưu giữ tại kho của Ngân hàng Quốc gia vào thời  điểm đó gồm vàng thoi và các loại tiền vàng nguyên chất. Có ba loại vàng  thoi: vàng thoi mua của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED); vàng thoi mua  của một công ty đúc vàng ở Nam Phi – Công ty Montagu; và vàng thoi được  đúc tại Việt Nam, do tiệm vàng Kim Thành đúc từ số vàng do quan thuế  tịch thu từ những người buôn lậu qua biên giới, phần lớn từ Lào.


Tất cả những thoi vàng đều  là vàng nguyên chất, mỗi thoi nặng 12-14kg, trên mỗi thoi đều có khắc  số hiệu và tuổi vàng (thường là 9997, 9998). Các thoi vàng được cất  trong những tủ sắt có hai lớp khóa và được đặt trên những kệ bằng thép,  mỗi kệ được xếp khoảng năm, sáu thoi vàng. Nhưng qua năm tháng, bị nặng  trĩu trước sức nặng của vàng, các kệ thép cũng bị vênh đi.


Các đồng tiền vàng được  giữ trong những hộp gỗ đặt trong tủ sắt. Đó là những đồng tiền vàng cổ  có nhiều loại, được đúc và phát hành từ thế kỷ 18, 19 bởi nhiều quốc gia  khác nhau… Ngoài giá trị của vàng nguyên chất, các đồng tiền này còn  được tính theo giá trị tiền cổ, gấp nhiều lần giá trị vàng nội tại của  nó. Tất cả số vàng thoi và tiền vàng cổ đều được theo dõi chi tiết từng  đơn vị, số hiệu, tuổi vàng, số lượng ghi trong một sổ kiểm kê do bộ phận  điện toán (computer) của ngân hàng theo dõi định kỳ hằng tháng và hằng  năm, hoặc bất cứ khi nào có thay đổi xuất nhập tồn kho.


Chúng tôi thực hiện công  tác kiểm kê trong hai ngày liền. Thật ra công việc cũng khá đơn giản. Số  giấy bạc dự trữ giữ trong các thùng bằng gỗ thông được niền bằng đai  sắt và niêm chì, mỗi thùng ghi rõ mệnh giá, loại giấy bạc, số lượng. Do  đó chỉ cần kiểm kê số lượng thùng bạc, các chi tiết tương ứng và đối  chiếu với sổ sách được điện toán hóa là biết khớp đúng ngay. Lúc đó,  loại giấy bạc mệnh giá cao nhất chỉ có 1.000 đồng, thuộc xêri mới phát  hành, có in hình các con thú hoang dã trong rừng rậm Việt Nam. Ngoài ra  vẫn còn tồn kho và tiếp tục phát hành loại giấy bạc nổi tiếng có in hình  danh tướng Trần Hưng Đạo, mệnh giá 500 đồng. Tổng giá trị giấy bạc dự  trữ trong kho lúc đó (nếu tôi nhớ không lầm) khoảng hơn 1.000 tỉ đồng,  gấp đôi lượng tiền lưu hành tại miền Nam vào thời điểm giải phóng.


Chỉ trong một buổi sáng,  chúng tôi đã kiểm kê xong số lượng giấy bạc dự trữ. Việc kiểm kê số vàng  chiếm nhiều thời gian hơn vì phải kiểm kê từng thoi vàng một để xem  trọng lượng, tuổi vàng và số hiệu có khớp đúng với sổ sách hay không.


Cuộc kiểm kê kết thúc, ai  nấy đều vui vẻ thấy số lượng tiền và vàng kiểm kê đều khớp với sổ sách  điện toán từng chi tiết nhỏ. Tôi ký vào biên bản kiểm kê, lòng cảm thấy  nhẹ nhõm. Việc bàn giao tài sản quốc gia cho chính quyền mới đã hoàn  tất. Sau chiến tranh, ít nhất đất nước cũng còn lại một chút gì, dù  khiêm tốn, để bắt đầu xây dựng lại. Về phía chúng tôi, điều này cũng  chứng minh một cung cách quản lý nghiêm túc của những người đã từng làm  việc tại Ngân hàng Quốc gia…”


Tác giả Huỳnh Bửu Sơn cũng liệt kê từng tủ và từng Hầm kho tàng. Và cuối bài viết, ông ghi:

“Tổng cộng: 1.234 thoi vàng.


NỀN.png
CHUYỆN TT NGUYỄN VĂN THIỆU VÀ 16 TẤN VÀNG

ST

bottom of page