

TÂM TÌNH / DIỄN ĐÀN
AI BÓP MÉO SỰ THẬT VỀ NHÂN QUYỀN?
LM Vì Dân Chủ Cho VN
Bài viết “Không thể bóp méo sự thật về ‘nhân quyền’ ở Việt Nam” của Thiện Thiện (thật ra là của Ban Tuyên giáo Trung ương) để đả kích Liên Minh Vì Dân Chủ Cho Việt Nam là một ví dụ điển hình cho thủ pháp tuyên truyền quen thuộc: dùng ngôn từ quy chụp để lảng tránh việc tranh luận dựa trên bằng chứng, đánh tráo khái niệm giữa "độc lập quốc gia" và "tự do cá nhân", đồng thời dùng chính hệ thống pháp luật bóp nghẹt tự do để ngụy biện cho những vi phạm nhân quyền có hệ thống. Đứng trên lập trường bảo vệ các giá trị phổ quát, Liên Minh Vì Dân Chủ Cho Việt Nam (Liên Minh) khẳng định rằng sự thật khách quan không thể bị bẻ cong bởi những diễn ngôn áp đặt một chiều.

Trước hết, cáo buộc cho rằng các báo cáo của Liên Minh đệ trình lên Liên Hiệp Quốc về tình hình nhân quyền tại Việt Nam là "xuyên tạc, bịa đặt" và "kêu gọi sự can thiệp từ bên ngoài" là một nỗ lực nhằm phủ nhận thực tại. Những bản báo cáo về tình trạng suy giảm tự do hay hồ sơ đàn áp tù nhân lương tâm hoàn toàn không xuất phát từ trí tưởng tượng. Chúng được xây dựng vững chắc từ chính các bản án công khai của tòa án Việt Nam, các lệnh bắt giữ từ cơ quan an ninh, cùng danh tính và lời chứng của gia đình hàng trăm con người đang bị tước đoạt tự do chỉ vì cất tiếng nói ôn hòa. Nếu nhà cầm quyền thực sự tự tin rằng những dữ liệu đó là "bôi đen", tại sao họ liên tục khước từ, cấm cản các Báo cáo viên Đặc biệt của Liên Hiệp Quốc hay các tổ chức nhân quyền độc lập quốc tế đến thăm các trại giam để kiểm chứng? Sự bưng bít thông tin và triệt tiêu truyền thông tư nhân chính là lời tự thú rõ nét nhất của việc che giấu sự thật. Hơn nữa, nhà nước CSVN đã tự nguyện ký kết Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR). Việc Liên Minh trình bày báo cáo tình hình nhân quyền tại Liên Hiệp Quốc là hành động vận dụng cơ chế giám sát quốc tế hợp pháp, yêu cầu CSVN thực thi đúng cam kết của mình, chứ hoàn toàn không phải là "kêu gọi ngoại bang can thiệp" như cách chụp mũ của truyền thông nhà nước.
Bên cạnh đó, bài viết đã cố tình đánh tráo khái niệm khi mượn lịch sử giành độc lập của dân tộc năm 1945 để ngụy biện rằng người dân đương nhiên đang được thụ hưởng dân chủ. Cần phải sòng phẳng nhìn nhận rằng: độc lập lãnh thổ không tự động sinh ra tự do cá nhân; một quốc gia thoát khỏi ách thực dân hoàn toàn vẫn có thể bị cai trị bởi một thể chế độc đoán áp bức chính công dân của mình. Tác giả bài viết tự hào trích dẫn lời Hồ Chí Minh đạo văn trong Tuyên ngôn Độc lập rằng "Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng", nhưng lại lảng tránh một nghịch lý chua xót trong hiện tại. Đó là Hiến pháp hiện hành, thông qua Điều 4, đã tước đoạt hoàn toàn quyền bình đẳng chính trị, quyền bầu cử đa đảng và quyền tự do lập hội của gần 100 triệu người dân khi hiến định đặc quyền cai trị độc tôn, vĩnh viễn cho một đảng duy nhất. Quá khứ lịch sử không thể trở thành "kim bài miễn tử" để biện minh cho sự độc quyền lãnh đạo và tước đoạt quyền lợi hợp pháp của công dân trong hiện tại. Bất kỳ ai nỗ lực thực hành các quyền tự do trong hơn 80 năm qua dưới ách cai trị của ĐCS đều đứng trước lằn ranh tù tội.
Sự ngụy biện trơ trẽn nhất nằm ở việc bài viết viện dẫn Hiến pháp và pháp luật để chứng minh "nhân quyền được bảo vệ". Trên thực tế, hệ thống luật pháp này đang được sử dụng như một công cụ đắc lực để hạn chế và dập tắt dân quyền. Bài viết nhắc đến Điều 14 Hiến pháp 2013 nhưng lại khéo léo lờ đi Khoản 2 của chính điều này – nơi cho phép nhà nước tùy ý tước đoạt các quyền cơ bản dưới cái cớ vô cùng mơ hồ là "an ninh quốc gia". Các đạo luật được xưng tụng như Luật Báo chí, Luật An ninh mạng hay Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, về bản chất, là những hàng rào kiểm duyệt khắt khe nhằm cấm đoán báo chí tư nhân, biến không gian mạng thành nơi giám sát khổng lồ và kìm kẹp các tổ chức tôn giáo độc lập. Mọi quyền tự do đều bị vô hiệu hóa hoàn toàn bởi Bộ luật Hình sự, khi nhà cầm quyền liên tục lạm dụng các điều luật được diễn giải tùy tiện như Điều 117 (tuyên truyền chống Nhà nước) hay Điều 331 (lợi dụng các quyền tự do dân chủ) để hình sự hóa quyền tự do biểu đạt, biến những công dân cất tiếng nói phản biện thành "tội phạm".
Cuối cùng, việc khoác lên mình chiếc áo "Thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc" hay mượn những thành tựu kinh tế để "tẩy trắng" hồ sơ nhân quyền là một lập luận đầy lỗ hổng. Ai cũng hiểu việc trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền phần lớn là kết quả của sự phân bổ ghế theo khu vực địa lý và những thỏa hiệp ngoại giao, hoàn toàn không phải là giấy chứng nhận cho một nền nhân quyền trong sạch. Đáng báo động là ngay trước và trong nhiệm kỳ này, cường độ đàn áp tại Việt Nam lại gia tăng khốc liệt. Không chỉ nhắm vào giới bất đồng chính kiến, nhà cầm quyền còn ngụy tạo các tội danh như "trốn thuế" để triệt hạ hàng loạt chuyên gia, nhà hoạt động môi trường uy tín.
Đồng thời, không thể đem "cuộc sống ấm no" ra làm bức bình phong, đánh đổi lấy quyền tự do, dân chủ. Tăng trưởng kinh tế là mồ hôi nước mắt của người dân lao động, không phải đặc ân ban phát của Đảng. Theo các chuẩn mực quốc tế, nhân quyền là bất khả phân. Thực tế đã chứng minh rành rành: một nền kinh tế tăng trưởng mà thiếu sự giám sát của báo chí tự do và xã hội dân sự đã trực tiếp dung dưỡng cho các đại án tham nhũng mang tính hệ thống (như Việt Á, Chuyến bay giải cứu, Vạn Thịnh Phát), tàn phá môi trường khốc liệt và dẫn đến những thảm kịch đẫm máu về bất công đất đai như ở Đồng Tâm.
Tóm lại, Liên Minh Vì Dân Chủ Cho Việt Nam chưa bao giờ "chống phá cuộc sống ấm no" của nhân dân. Những bước tiến về kinh tế của Việt Nam thời gian qua thực chất là hệ quả tất yếu của quá trình hội nhập vào dòng chảy phát triển kinh tế toàn cầu. Hơn thế nữa, thực tế đã chứng minh: dù nhà cầm quyền ép người dân phải đánh đổi các quyền tự do cơ bản lấy sự tăng trưởng, Việt Nam hiện vẫn là một quốc gia nghèo và tụt hậu đáng kể khi đem so sánh với các nền dân chủ tôn trọng nhân quyền trong cùng khu vực.
Chính vì lẽ đó, chúng tôi không ngừng đấu tranh để sự phát triển kinh tế phải được xây dựng vững chắc trên nền tảng của phẩm giá con người, sự công bằng trước pháp luật và một đời sống không bị bủa vây bởi sự sợ hãi. Một nhà nước thực sự vì dân, tự tin về tính chính danh và hồ sơ nhân quyền của mình sẽ lựa chọn mở rộng không gian dân sự, đối thoại minh bạch với quốc tế và người dân, thay vì huy động bộ máy tuyên truyền khổng lồ để bôi nhọ những người dám nói lên sự thật. Chừng nào các tù nhân lương tâm vẫn còn mòn mỏi sau song sắt, những bản báo cáo đệ trình trước cộng đồng quốc tế vẫn sẽ là tiếng nói đại diện cho một sự thật khách quan không thể chối cãi.