

TÂM TÌNH / Ý KIẾN
CÁCH XÀI CHỮ CỦA NGƯỜI NAM KỲ
MẶC NHIÊN CƯ SĨ
Người xưa có câu "nét chữ, nết người", chuyện cái nết xài chữ nghĩa nó cũng y chang vậy.
Chữ nghĩa cất lên như cái mộc đóng vô thịt da, vừa thốt ra lời là thấy rõ gốc gác, nguồn cội của người nói ở đâu, đặng mà biết hành xử cho hợp.
Chỉ cần đọc một bài viết, hay nghe loáng thoáng mấy câu bình luận là biết liền người này mang căn cốt Sài Gòn, người kia là dân TPHCM, ông này rặt nết Nam Bộ, bà kia mang hơi hướm miền Trung, hay ông đó mang ngữ điệu đất Bắc.
Nó hiện lên tỏ tường từ cách nhấn nhá từ ngữ, lối buông lời bộc bạch, cho tới phong cách.. sai chánh tả cũng mang cái hồn cốt rất riêng của từng xứ sở.
Ở đây, chỉ xin nói chuyện cái nết ăn nói của người miền Nam mình, so với cái lối xài chữ "hầm bà lằng" thời nay.
Cùng một ý niệm, người miền Nam quen xài chữ Quân lực, thì ở chỗ khác lại chuộng chữ Quân đội.
Chuyện đi quân dịch xưa với đi nghĩa vụ quân sự nay, xét về bổn phận thì cũng vậy thôi, nhưng cái hồn cốt đàng sau mỗi chữ lại gợi lên hai ý niệm hoàn toàn khác biệt.
Trong bản nhạc "Chiều mưa biên giới" có câu: "Người đi khu chiến thương người hậu phương". Nghe hai chữ khu chiến là thấy liền nét diễn đạt thân quen, dư vị khác hẳn với chữ chiến khu.
Lại như danh xưng Thủy quân lục chiến khi chuyển thành Lính thủy đánh bộ, hay Hàng không mẫu hạm đổi thành Tàu sân bay, nghe qua thấy có chút lạ lẫm. Chắc tại người ta muốn tìm một lối diễn đạt gần gũi hơn.
Nhưng xét về cái lý của chữ nghĩa, nếu muốn tìm sự mộc mạc tuyệt đối, sao không đồng nhất là "Lính nước đánh bộ" cho trọn nét bình dân?
Cũng trong mạch đổi dời đó, hàng loạt danh từ quen thuộc như Phi cơ, Phi trường, Phi đạo, Phi thuyền lần lượt nhường chỗ cho Máy bay, Sân bay, Đường băng, Tàu vũ trụ.
Nhưng lạ cái, tới chữ Phi công với Phi hành đoàn thì lại giữ nguyên trạng. Hình như cái gì chưa tìm ra chữ thuần Việt vừa tai thì ngôn ngữ tự biết dừng lại để chờ..
Nói qua tới chuyện hành chánh và đời sống thường nhựt, cái nét dung hòa của tiếng Nam Kỳ lại càng lộ rõ.
Người miền Nam vốn quen tai với âm Chánh: Chánh phủ, Chánh quyền, Công chánh, hay tánh nết chánh trực.
Giờ đây đa số đã chuyển thành Chính, vậy mà các chức danh như Chánh án, Chánh Thanh tra, Chánh Văn phòng từ xưa tới nay vẫn giữ nguyên, như một nấc trầm chưa bị khỏa lấp.
Trong đời sống thường ngày, có những danh từ nghe qua là nhận diện được nết sống miền Nam cũ, vừa bài bản mà lại mang nét cổ kính như: Sổ thông hành, Hồng Thập Tự, Tư dinh, Ngũ Giác Đài, Tòa Bạch Ốc, Bắc phần/Trung ph ần/Cao nguyên Trung phần, Hoa Thịnh Đốn, Nữu Ước, Mạc Tư Khoa...
Có nhiều người nói thẳng rằng không ưa cách hô địa danh Hán-Việt như vậy, còn dè bỉu.
Mà ngộ, khi cần cất lời ca ngợi, người ta vẫn hát "Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò xứ Nghệ", nghe vừa lạ mà cũng vừa quen.
Hay như tấm Thẻ Căn cước, sau nhiều chặng đường thay đổi danh xưng từ Chứng minh thư thành Chứng minh nhân dân rồi Căn cước công dân, rốt cuộc cái tên nguyên bản đó vẫn đường hoàng trở lại như xưa.
Rồi Nhà bảo sanh, cái tên nghe nhẹ nhàng và tràn đầy tình thương, ai đời lại gắn cho cái tên cứng ngắc: Xưởng đẻ! Nghe như đang tạo ra những sản phẩm công nghiệp từ khuôn mẫu vậy.
Ngó kĩ vô lối ăn nói của nhiều bạn trẻ miền Nam bây giờ, sẽ thấy vướng vô không ít hư từ lai căng, làm lạt đi cái nết mộc mạc của tiếng xứ mình. Người Nam Kỳ xưa muốn tả cảm xúc mạnh thì nói "dữ chèn", "quá chừng", "thấy ghê", chứ đâu có chêm chữ "vãi" nghe thô ráp và dung tục.
Hay thường đệm chữ "kiểu" (kiểu như là, kiểu kiểu vậy). Nhờ ai cái gì bao giờ cũng nói ngọt xớt: "đưa dùm tui với" hay "làm dùm chút xíu", chứ không ai nói cộc lốc "đưa dùm cái" "cái" là cái gì?
Cái thần và cái nét hay của ngôn ngữ miền Nam xưa vốn nằm ở sự nhịp nhàng, uyển chuyển.
Khi cần sự nghiêm cẩn thì ngôn từ đài các, trang trọng. Còn quay về với đời thường thì mộc mạc, dung dị.
Người ta ít khi nói mấy chữ hùng hồn như khẩn trương, xử lý hay thanh toán, mà chỉ đơn giản là: nhanh lên, giải quyết cho xong, hay tính tiền dùm.
Ngôn ngữ là lớp áo mặc trên mình, thể hiện bản sắc vùng miền. Mỗi nơi chốn có sắc thái riêng, đừng gắn gượng đắp áo của mình lên kẻ khác.
Chim xa cây còn nhớ nhánh, người xa tiếng nói sao đành quên quê...Mong sao qua bao biến đổi của thời gian, người Nam vẫn giữ được cái hồn cốt chân phương của tiếng nói quê nhà, để mỗi lần cất tiếng lên, ta không phải mỏi mắt tìm đồng hương trên chính quê hương mình.
FB._Mặc nhiên Cư sĩ.
#CusiHacAm #TiengNguoiMienNam #VanHoaNamBo #SaiGonXua #DadangNgonngu