top of page
Banner edge

TÂM TÌNH / TÂM TÌNH CỰU SVSQ & HẬU DUỆ

K-3 LÝ KÝ HOÀNG THAM DỰ BUỔI HỌP BÁO TẠI TÒA BẠCH ỐC NĂM 1972

Hồi ký của K-3 Lý Ký Hoàng

K-3 LÝ KÝ HOÀNG THAM DỰ BUỔI HỌP BÁO TẠI TÒA BẠCH ỐC NĂM 1972

Được người bạn thân cùng Khóa Nguyễn Văn Cư nhắc nhở và khuyến khích, tôi xin gởi bài Hồi Ký về việc Họp Báo Tại Tòa Bạch Ốc.


Năm 1972, tôi và bốn sĩ quan CSQG được chọn đi tu nghiệp tại International Police Academy (gần Georgetown University) Washington D.C. Trước chúng tôi một khóa còn có Ong Tỷ, K3 và một số Sĩ Quan CSQG khác cũng đang tu nghiệp tại đây.


Phải nói rằng những năm 1971-1972 là thời điểm mà đất nước chúng ta gặp nhiều khó khăn nhất. VNCH đã bị ép buộc phải ngồi vào bàn Hội Nghị Paris ngang hàng với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Cộng quân đã mở nhiều cuộc tấn công lớn trên toàn lãnh thổ, chúng ngang nhiên chiếm đất dành dân. Cũng năm 1972 đã xảy ra trận chiến kinh hoàng của Mùa Hè Đỏ Lửa. Quân Lực VNCH chống trả oai hùng các đợt tấn công của quân chính qui Bắc Việt, đông hơn gấp nhiều lần trong điều kiện thiếu thốn và cô đơn. Tưởng cũng nên nhắc lại, vào năm 1971 hai ứng cử viên Nguyễn Cao Kỳ, Dương Văn Minh rút tên ra khỏi danh sách ứng cử Tổng Thống và tung tin Ông Thiệu tổ chức bầu cử gian lận, liên danh Nguyễn Văn Thiệu-Trần Văn Hương “độc diễn” v..v...  CS Bắc Việt, các nhóm thiên tả và báo chí quốc tế xách động học sinh, sinh viên xuống đường chống đối, nhóm “ký giả ăn mày” liên tục tấn công chính phủ, tung tin bất lợi cho VNCH. Trong hoàn cảnh đó, cố vấn Hoa Kỳ thuộc cơ quan USAID, Office of Public Safety đang làm việc với CSQG lại bị giải thể theo đạo luật bổ sung của Thượng Nghị Sĩ phản chiến Mike Mansfield (Mansfield’s Ammendement). Một phần ngân sách USAID/OPS còn lại được dùng vào việc gấp rút đào tạo Sĩ Quan CSQG/VNCH tại Hoa Kỳ. Trong thời gian nầy, tôi phục vụ tại Khối Tư Pháp, Bộ Tư Lệnh CSQG và thường hay gặp các Cố Vấn Hoa Kỳ. Trong số các vị cố vấn có một Đại Tá Bộ Binh tùng sự tại MACV (Millitary Asistant Command, VietNam) Tân Sơn Nhất. Năm 1971, Ông ta được thăng chức và chuyển về làm việc tại Tòa Bạch Ốc. Trước khi chia tay, Ông ân cần căn dặn tôi nếu có dịp đến Washington, nhớ ghé thăm Ông.


Ngày đầu tiên vào lớp học, tôi ngạc nhiên khi vị sĩ quan phụ trách giảng dạy tại đây trao cho tôi một thơ mời được gửi từ Tòa Bạch Ốc. Đây là bức thư của Ông Cố Vấn MACV mà tôi đã quen ở VN, nay là Phụ Tá cho một Cố Vấn Tổng Thống Hoa kỳ. Ông ta truy tìm ra tôi. Chúng tôi rất vui mừng khi gặp lại nhau. Sau đó, tôi được giới thiệu với Tiến Sĩ Robert Dupont, cố vấn của Tổng Thống Nixon. Tiến Sĩ Robert Dupont là Director of National Drug Control Policy. Ông ta tiếp chuyện rất vui vẻ và mời tôi trở lại tuần sau đó để tham gia vào cuộc họp báo với đề tài “Ma Túy tại các trường học quốc tế ở Bangkok”. Tôi từ chối với lý do không biết gì về chuyện bên Bangkok. Ông Cố Vấn thuyết phục tôi “Anh nên cố gắng đến bởi vì chúng tôi rất muốn anh tham dự cuộc họp báo vào tuần tới”. Tôi trả lời là phải được Tư Lệnh CSQG cho phép thì tôi mới có thể tham gia. Ông bảo tôi hãy yên tâm và Ông sẽ xúc tiến việc xin phép Tư Lệnh CSQG.


Vài hôm sau tôi được gọi lên Văn Phòng của nhà trường và họ đã trao cho bức điện tín khẩn từ Saigon với dòng chữ: “Col. Nguyen Khac Binh authorizes Captain Ly Ky Hoang attend a Press Conference at White House on.....” Bức điện tín đi khá nhanh, mãi về sau tôi mới biết Giám Đốc USAID/Office of Public Safety Mike McCann đích thân xin phép Tư Lệnh CSQG cho tôi. Tôi đã giữ bức điện tín như “lá bùa hộ mệnh”.


Hôm họp báo, tôi hơi “khớp” vì dàn micro của các cơ quan truyền thông lớn như ABC, NBC, CBS....đặt trước mặt và hàng loạt máy quay phim nhà nghề chĩa vào. Tôi chưa bao giờ tham dự một cuộc họp báo có tầm vóc quốc tế như thế. Thôi thì đã lỡ “mang chuông đi đánh xứ người” mình phải cố gắng làm sao cho tiếng chuông không bị rè là tốt rồi.


Mở đầu cuộc họp báo, tôi trình bày sơ lược về đường giây chuyển vận ma túy từ Tam Giác Vàng (Lào, Miến Điện và Thailand) qua ngã Bangkok nơi có hàng ngàn học sinh Trung và Tiểu học mà phần lớn là con em của các nhân viên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và quốc tế đang theo học. Học sinh có thể tìm mua ma túy một cách dễ dàng với giá rất rẻ. Các ký giả chỉ hỏi qua loa vài câu sau đó họ chuyển sang đề tài chính trị. Họ đặt những câu hỏi như: “Ông nghĩ gì về đề nghị ngưng bắn “da beo” và cuộc bầu cử “độc diễn của Ông Nguyễn Văn Thiệu?” Bị bất ngờ vì các câu hỏi không nằm trong đề tài của cuộc họp báo. Tôi định từ chối nhưng chợt nhớ tới “lá bùa hộ mệnh” và thầm nghĩ “cờ đến tay” sao không phất?


Tôi trả lời:


"Hiệp Định Geneve năm 1954 không có điều khoản nào cho phép các lực lượng võ trang của Cộng Sản Bắc Việt lấn chiếm lãnh thổ VNCH và chính phủ VNCH cũng chưa bao giờ ra lệnh cho quân lực của mình xâm lấn lãnh thổ Bắc Việt.  Đề nghị ngưng bắn “da beo” của Cộng sản Bắc Việt không những là một âm mưu thâm độc mà còn là một thừa nhận việc vi phạm trắng trợn Hiệp Định Geneve vào lãnh thổ VNCH.  Quý vị nên nhớ Hiệp Định Geneve 1954 đã được quốc tế công nhận và Cộng Sản Bắc Việt cũng đã cam kết tôn trọng.


Về việc chỉ có Liên Danh Nguyễn Văn Thiệu và Trần Văn Hương ra ứng cử thì chiếu theo Hiến Pháp Đệ Nhị Cộng Hòa do Quốc Hội Lập Hiến ban hành năm 1966 có điều khoản như sau: “Nếu chỉ có một liên danh ra ứng cử thì cử tri có quyền bỏ phiếu tín nhiệm hay bất tín nhiệm.” Năm 1971, dưới sự giám sát của các tổ chức quốc tế, Liên Danh của hai ông Nguyễn Văn Thiệu và Trần Văn Hương được hơn 71% phiếu tín nhiệm.  Vì vậy, việc đắc cử của Liên danh Nguyễn Văn Thiệu-Trần Văn Hương là hợp hiến, hợp pháp.”


Buổi chiều hôm đó, nhiều cơ quan truyền thông Hoa Kỳ tường thuật lại cuộc họp báo tại Tòa Bạch Ốc trên các Đài truyền hình quốc gia.


Một tuần sau khi tôi trở về nước, Trung Úy Khanh thuộc Phòng Văn Thư Bộ Tư Lệnh mời tôi lên trò chuyện chơi. Tôi được Trung Úy Khanh cho xem bản phúc trình của Tòa Đại Sứ VNCH tại Hoa Thịnh Đốn gửi cho Bộ Tư Lệnh CSQG về cuộc họp báo “giải độc” cho VNCH. Trên bản phúc trình tôi đọc được nét bút của Tư Lệnh CSQG Nguyễn Khắc Bình: “Khen ngợi Ô. Hoàng”. Trung Úy Khanh cho tôi biết “Công văn này sẽ được lưu vào hồ sơ cá nhân”.


Ba năm sau, khoảng 4 tuần trước khi mất nước, tôi được Trung Tá Tạo, Chánh Văn Phòng Tư Lệnh CSQG gọi lên trình diện. Tôi thật lo lắng vì trong Bộ Tư Lệnh ai ai cũng biết Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình làm việc rất nghiêm khắc, tất cả các mệnh lệnh phải theo hệ thống quân giai. Muốn gặp Tư Lệnh phải có mặt của Trưởng Khối liên hệ nhưng tôi lại được Văn Phòng thông báo trình diện ngay tức khắc. Đây là lần đầu tiên tôi trình diện Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình. Bước vào Văn Phòng của Ông tôi theo phương thức quân kỷ:


“Thiếu Tá Lý Ký Hoàng,  Khối Tư Pháp trình diện Thiếu Tướng Tư lệnh”.


Thiếu Tướng Bình đang từ bàn làm việc ngẩng nhìn lên, Ông vẫy tay cho tôi đến gần Ông hơn. Bước thêm ba bước, tôi đứng lại với tư thế nghiêm.

Thiếu Tướng Bình nói:


“Tôi cho phép Thiếu Tá đi Hoa kỳ theo lời mời của Tòa Đại Sứ Mỹ. Thiếu Tá cũng biết giờ phút này tôi không còn cho ai xuất ngoại để học hành làm gì. Tuy nhiên, tôi cho Thiếu Tá đi Mỹ với hy vọng nếu gặp cơ hội như năm 1972 Thiếu Tá có thể trình bày cho Chính Phủ và công dân Hoa kỳ biết tình trạng khó khăn của VNCH. Tôi và Tổng Thống hoàn toàn tin tưởng vào khả năng của Thiếu Tá”.


Ông tiếp: “Chúc Thiếu Tá may mắn và thành công”.


Rời văn phòng của vị Tư Lệnh CSQG, tôi không khỏi bàng hoàng và lo lắng. Mặc dù đây chỉ là những lời nhắn nhủ nhưng thi hành nhiệm vụ thật không dễ chút nào. Đây là chuyện quốc gia đại sự chớ không phải chuyện đi tu nghiệp thông thường. Tôi không hiểu Kinh Kha trước khi sang Tần có tâm trạng rối bời như tôi hay không? Làm sao thuyết phục Hoa Kỳ tiếp tục viện trợ quân sự cho VNCH?


Tôi đáp chuyến PanAm đi Washington DC.  Đây là một trong những chuyến bay cuối cùng vì sau đó vài hôm, Việt Cộng pháo kích vào phi trường Tân Sơn Nhất, hãng hàng không PanAm đã hủy tất cả các chuyến bay sau này.


Vừa đến Washington DC, tôi cấp tốc đến gặp ngay Ông Cố Vấn MACV. Tình hình thay đổi quá nhanh. Chỉ trong vòng hai tuần, vùng I vùng II đã bỏ ngỏ và rơi vào tay Cộng Sản. Ông Cố Vấn cho tôi biết Quốc Hội Mỹ đã “khóa tay” Tổng Thống Hoa Kỳ từ lâu. Tổng Thống Ford cũng vừa tuyên bố “lịch sử Việt Nam đã sang trang”. Bây giờ Hoa Kỳ chỉ có thể trợ giúp nhân đạo mà  thôi. Tôi “chết điếng” khi nghe tin này nhưng vẫn cố vớt vát nhờ Ông Cố Vấn hỏi lại Văn Phòng Tòa Bạch Ốc về những cam kết của Chính Phủ Hoa Kỳ với VNCH xem có còn thực hiên được chút nào hay không? Chẳng hạn như cho VNCH vay 300 triệu Mỹ Kim để mua đạn dược, xăng dầu. Câu trả lời vẫn là không vì: “Tất cả đều tùy thuộc vào Quốc Hội Hoa Kỳ!”. Tôi nghẹn ngào hỏi: Số phận quân dân cán chính của VNCH rồi sẽ ra sao???


40 năm sau, nhân dịp Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình đến Washington DC, tôi được Ông tiếp chuyện qua điện thoại và có nhắc đến hai chuyến công tác năm xưa tại Tòa Bạch Ốc.


Xin Thiếu Tướng nhận bài hồi ký này như một phiếu trình muộn màng.


Lý Ký Hoàng

Cựu SVSQ Khóa 3 Học Viện CSQG.

Cựu Thiếu Tá Khối Tư Pháp Bộ Tư Lệnh CSQG/VNCH


Ghi chú của tác giả:

Sau ngày 30/4/1975, các đồng minh của Hoa Kỳ đã hết tin vào những cam kết của chính phủ Hoa Kỳ. Phi Luật Tân đuổi Mỹ ra khỏi Subic Bay và Clark Air Base. Thái Lan đuổi Mỹ ra khỏi Udorn, Utapao và trong chiến tranh Iraq, Hoa Kỳ bị Thổ Nhĩ Kỳ, một đồng minh quan trọng trong Khối NATO áp dụng biện pháp “gậy ông đập lưng ông”: Quốc Hội Thổ Nhĩ Kỳ không cho phép phi cơ quân sự Hoa Kỳ bay qua không phận của họ để đánh Iraq. Cuối cùng Hoa Kỳ đã phải điều đình với các nước thuộc Liên Bang Sô Viết cũ như Tajikistan, Kyrgystan để sử dụng lãnh thổ và không phận của họ.



devider 1.gif
bottom of page