top of page
Banner edge
CÂU CHUYỆN CÀ PHÊ VƯỜN VÀ OAN TRÁI H.O.

Toàn Như

(Truyện về một người tù "cải tạo" bị rớt H.O. lấy cảm hứng từ câu chuyện thật của K1 Nguyễn Văn Suốt)


Kể từ khi quán cà phê L.H. ở một góc đường Westminster đóng cửa để remodel  vì thay đổi chủ nhiều khách hàng quen thuộc của quán này cũng buồn vì họ đã mất đi một nơi hội họp vào mỗi cuối tuần.
     

Thông thường cứ vào cuối tuần, quán LH rất đông khách. Đa số khách của quán là những anh em cựu H.O. nên quán  còn có tên gọi thân mật là Quán Hát Ô, hay quán Ông Gìa Đầu Bạc vì ông  chủ quán cũng là một cựu H.O. gốc TQLC có mái tóc húi cua kiểu nhà binh  bạc trắng. Có lẽ vì nhân thân của ông chủ quán như vậy nên đã được các  anh em H.O. hết mình ủng hộ. Họ tụ họp ở đây cả giờ mà chỉ với một ly cà  phê. Thật ra đối với họ, ly cà phê chỉ là cái cớ để có dịp ngồi lại bên  nhau chuyện gẫu cho vui mà thôi. Họ thường tụ lại thành từng nhóm, nhưng đông nhất là nhóm các cựu TQLC, bạn cùng binh chủng với ông chủ  quán.
      

Kể từ ngày quán LH đóng cửa, các nhóm trên đã mất đi một nơi để gặp  nhau cuối tuần hầu có dịp cà kê dê ngỗng chuyện trên trời dưới đất.  Không còn LH, mọi người đành di tản tìm đến những quán cà phê khác.
      

Cũng giống như các nhóm bạn khác, không có LH, nhóm chúng tôi cũng  buồn năm phút. Sau ít lần đi uống cà phê ở một vài nơi khác, một hôm, để thay đổi không khí, anh Tôn trong nhóm đã ngỏ ý mời các bạn đến vườn nhà anh uống cà phê thay vì ra quán. Mọi người hưởng ứng ngay và thế là từ đó hàng tuần nhóm bạn chúng tôi có mục cà phê vườn thay cho việc ra quán.
      

Vườn sau nhà anh Tôn là một sân rộng có khá nhiều cây lá xum xuê,  phần lớn là những loại cây ăn trái rất thông dụng trong những vườn nhà  của người Việt. Như cam, quýt, ổi, chanh, hồng, lựu, thanh long,...; hay  những loại rau lá, bầu bí, mướp, dưa ,v.v... Anh Tôn dành ra hẳn một góc sân để làm nơi cho bạn bè tụ tập cà phê. Mọi người ngồi quanh một cái bàn dài với những ghế xếp hay ghế đẩu nhiều ít tùy theo số người có  mặt. Để tránh mưa nắng, anh Tôn còn dựng lên một cái lều nhỏ, loại tiền  chế, để làm chỗ cho các bạn tụ họp. Đặc biệt, vào những ngày có những  trận thi đấu thể thao hấp dẫn như World Cup hay Super Bowl, v.v... anh  Tôn còn đem cả TV ra ngoài lều để anh em đến xem và uống cà phê. Mọi  người vừa xem TV vừa reo hò bàn tán ồn ào không kém gì ở những tụ điểm  bên ngoài. Còn những lần khác, mọi người đến vào cuối tuần, vừa nhâm nhi  cà phê, vừa nghe chim hót và ngắm nhìn cây cối quanh vườn cũng rất vui.  Không khí lúc nào cũng ồn ào náo nhiệt chẳng khác gì ở quán. Đến lúc cà  phê xong, nhiều bạn còn tiện tay "chôm" về những trái cây, rau lá từ  vườn nhà của khổ chủ.
      

Ở quán L.H., mọi người uống cà phê phải trả tiền, dĩ nhiên, nhưng ở  quán cà phê vườn này, các bạn được anh Tôn đãi cà phê miễn phí. Cà phê  được anh pha chế sẵn trong coffeemaker, ai muốn uống cứ tự nhiên  selfservice với đường hay sữa tùy thích. Cà phê vườn như vậy lúc đầu cứ  tưởng chỉ là tạm thời trong khi chờ đợi quán L.H. tái xuất giang hồ, nào  ngờ việc này đã được kéo dài chưa biết đến bao giờ mới dẹp tiệm. Có lẽ  vì các bạn thấy thuận tiện vì vừa được uống cà phê ‘chùa’, vừa được có  một chỗ ngồi đấu hót hàng giờ mà chẳng sợ bị phiền hà như khi ngồi ở  quán.
      

Một ngày cuối năm, một bạn trong nhóm cho biết mới nhận được tin  nhắn từ Việt Nam về một người bạn mà nhiều người trong nhóm có quen  biết. Đó là anh Sáng hiện đang sống ở Mỏ Cày, Bến Tre. Theo bạn này,  hoàn cảnh của anh Sáng thật éo le tội nghiệp. Mặc dù bị ở tù cộng sản  tới 13 năm nhưng anh vẫn bị từ chối không được vào Mỹ theo diện H.O.
           *    

Như mọi người đã biết, sau ngày 30 tháng Tư, 1975, anh Sáng cũng  như bao quân cán chính VNCH khác phải đi tù ‘cải tạo’. Anh Sáng là một  thiếu tá ngành cảnh sát đặc biệt nên mãi 13 năm sau mới được trả tự do.  Ngày anh vào tù, vợ anh đang mang bầu đứa con út được ba tháng. Sau một  tháng vẫn không thấy chồng trở về, chị đành mang mấy đứa con về Mỏ Cày  tá túc nhà cha mẹ ruột. Nhưng rồi chị chờ đợi mỏi mòn mãi mà tin tức  chồng vẫn bặt tăm. Sáu tháng sau, chị hạ sanh một bé trai. Để ghi nhớ  ngày vợ chồng vì thời cuộc phải chia ly xa cách chị đặt tên cho con là  thằng cu Ly.
      

Về quê sinh sống, chị Sáng chẳng biết làm gì để kiếm sống ngoài việc  phụ giúp công việc đồng áng trên một công đất của cha mẹ. Nhưng rồi khi  mọi người bị buộc phải vào hợp tác xã nông nghiệp thì cái công đất ấy  cũng không còn nữa. Cha mẹ chị đã thành một xã viên hợp tác xã làm việc  như những tá điền làm thuê ngay trên mảnh đất của mình để được chấm công  điểm. Công điểm sau đó mới được qui ra thóc gạo và nhu yếu phẩm như một  hình thức trả lương. Còn chị, vì là vợ của một sĩ quan "ngụy" ngành  cảnh sát sát đặc biệt “ác ôn”, bóc lột nên không được thâu nhận vào làm  trong hợp tác xã. Không những vậy, chúng còn muốn chị phải đi lập nghiệp  ở vùng kinh tế mới nhưng chị lấy lý do các con chị còn qúa nhỏ để cứ  nấn ná ở lại.
      

Tuy nhiên, để được như vậy, chị phải lo lót cho bọn cán bộ xã ấp. Đó  là bài học "đầu tiên" (tiền đâu) mà chị học được dưới chế độ xã hội chủ  nghĩa. Từ đó, chị đã tận dụng cái khoảnh đất còn lại ở sau nhà cha mẹ  tập tành trồng rau, trồng bắp, trồng cải,... rồi thu hoạch đem bán kiếm  sống qua ngày. Cũng may hồi nhỏ chị có ở dưới quê một thời gian nên nay  công việc ruộng vườn chị làm quen cũng mau chóng.
      

Mãi hơn một năm sau ngày 30/4/1975, khi đi làm sổ mua gạo và nhu yếu  phẩm chị mới sực nhớ chưa làm giấy khai sanh cho thằng Ly. Thời gian  đó, gạo và các nhu yếu phẩm phần lớn được bán theo sổ phân phối, không  có giấy khai sanh, nó sẽ bị mất khẩu phần gạo và có thể sẽ không được đi  học khi lớn lên. Thế nên chị đi làm khai sanh cho nó trễ mất một năm.  Đó cũng là lý do mà sau này đã làm cho gia đình anh chị không được xuất  cảnh đi Mỹ theo diện H.O. như những cựu tù "cải tạo" khác.
      

Đến giữa năm 1988, anh Sáng mới được trả tự do sau hơn 13 năm tù  trải qua nhiều trại tù từ Nam ra Bắc. Ngày anh ra tù cũng là lúc có tin  đồn các cựu tù nhân chính trị nguyên là những sĩ quan chế độ cũ nếu đã  bị tù từ ba năm trở lên sẽ được đi Mỹ định cư theo một thỏa thuận giữa  Hoa Kỳ và Việt Nam. Dĩ nhiên, chẳng riêng gì anh Sáng mà có thể nói hầu  hết các anh em tù đều rất vui mừng đón nhận tin này. Mọi người đều mong  mỏi tin đó sẽ là sự thực để được thoát ra khỏi cảnh đày đọa, phân biệt  đối xử dưới chế độ cộng sản sau khi đã bị trải qua nhiều năm tù đói khổ.
     

Khi nghe tin chương trình tái định cư  các tù "cải tạo" nói trên đã chính thức bắt đầu vào năm 1989, vợ chồng  anh Sáng đã chạy vạy khó nhọc mới đủ tiền để nhờ dịch vụ nộp đơn xin  xuất cảnh theo chương trình mà sau này gọi là H.O. Sau bao nhiêu ngày  chờ đợi, cuối cùng cả gia đình anh đã được gọi đi lên Sài Gòn phỏng vấn.  Tưởng là với 13 năm tù, anh và gia đình sẽ dễ dàng được Mỹ chấp thuận  cho đi Mỹ. Thế nhưng oái oăm thay khi vào phỏng vấn, phía Mỹ đã nghi ngờ  anh khai man lý lịch. Họ cho rằng thằng Ly không phải là con anh vì  theo giấy khai sanh của nó, nó được sanh ra lúc anh đã vào tù được hơn  một năm.


Anh Sáng đã giải thích cho người phỏng vấn hiểu rằng, thằng Ly chính  là con anh. Vợ anh đã mang thai nó khi anh bắt đầu vào tù. Sáu tháng  sau, trong lúc anh đang ở tù thì chị sanh nó. Vì cuộc sống qúa cực khổ ở  thôn quê và vì qúa bận rộn để mưu sinh nên vợ anh đã quên và làm khai  sanh trễ cho nó. Nhưng dù đã giải thích như thế, người phỏng vấn viên  vẫn không tin và không chấp nhận. Ông ta từ chối hồ sơ H.O. của anh vì  cho rằng anh "man khai lý lịch", ghép tên con của người khác làm con  mình để mang sang Mỹ (!).


Quá tức giận về kết luận của người phỏng vấn viên, anh Sáng đã lớn  tiếng phản đối sự quy chụp này và yêu cầu được thử nghiệm DNA để xác  minh thằng Ly có phải là con anh hay không.

Sau đó, nghĩ rằng mình không có gì gian dối, anh Sáng đã viết thư  cầu cứu các bạn ở Mỹ nhờ khiếu nại giùm trường hợp của anh. Nhờ vậy, anh  đã được tái phỏng vấn và được thử mẫu DNA của anh và thằng Ly. Mặc dù  kết qủa DNA của cha con anh là đồng nhất, nhưng không hiểu sao phía Mỹ  vẫn không thay đổi quyết định. Anh Sáng vẫn bị Mỹ khước từ hồ sơ xuất  cảnh. Theo anh Sáng, có thể người phỏng vấn viên ban đầu đã có ác cảm  với anh vì anh lớn tiếng cãi lý nên đã bị người này đưa tên vào "hồ sơ  đen". Cho nên sau này dù được tái phỏng vấn, anh vẫn bị Mỹ từ chối vì đã  có "hạnh kiểm xấu" trong hồ sơ (?).


Thế là giấc mộng đi Mỹ của anh Sáng đành phải gác lại. Vợ chồng anh  lại đành phải trở về Mỏ Cày để tiếp tục công việc chân lấm tay bùn chẳng  khác gì những ngày lao động ở trong và ngoài nhà tù. Đúng là cái vận số  anh qúa đen, nó cứ mãi đeo bám theo anh cho đến tận hôm nay.

Đã gần ba mươi năm kể từ ngày bị rớt H.O., cuộc đời anh Sáng vẫn  chẳng có gì khá hơn. Mới đây anh Bửu, một bạn khác trong nhóm, trong  chuyến về VN thăm nhà có gặp hai vợ chồng anh Sáng ở Mỏ Cày thấy rất tội  nghiệp. Họ chẳng khác gì hai ông bà gìa lam lũ ở miệt vườn dù tuổi đời  của họ cũng xấp xỉ các bạn trong nhóm. Cả hai mặc những bộ quần áo cũ  bạc màu, thậm chí sờn rách. Anh Sáng vẫn tiếp tục công việc trồng trọt  cực nhọc như ngày nào khiến cho có lần anh đã bị té ngất xỉu ở trong  vườn, may mà vợ anh thấy kịp thời cứu cấp.

Biết tin này, anh Bửu khi trở lại Mỹ đã vận động bạn bè gởi giúp anh  chị Sáng một số tiền. Nhờ vậy, chị Sáng đã có một số vốn nhỏ để buôn  bán lặt vặt kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Riêng các người con của anh  chị Sáng nay đều đã trưởng thành và lập gia đình nhưng chúng cũng chẳng  khá gì hơn bố mẹ. Vì hoàn cảnh đặc biệt của gia đình sau 1975 nên chúng  không được học hành đến nơi đến chốn. Vì vậy nay chúng cũng chỉ là  những công nhân tầm thường với những đồng lương khiêm tốn.


Kể chuyện về anh Sáng đã làm Tuấn, một bạn trong nhóm, nhớ đến một  trường hợp tương tự nhưng may mắn hơn. Anh Tuấn kể, tình cờ quen biết  anh Thơ, một người bạn H.O. Giống như anh Sáng, Thơ có một người con  được sanh ra trong lúc anh còn đang ở trong tù. Người con này không bị  làm khai sanh trễ như con anh Sáng, nhưng đặc biệt hơn, nó được sanh ra  mãi mấy năm sau khi anh Thơ đã đi tù. Lý do vì có lần anh Thơ được trại  cho phép thăm gặp gia đình ở lại qua đêm. Cũng vì lần thăm gặp đó mà kết  qủa vợ anh đã mang bầu thằng con út. Cái bầu đã làm cho chị Thơ bị  nhiều tai tiếng dị nghị, nhưng vốn là một người công giáo nên chị đành  câm lặng, không giải thích và cũng không hủy hoại cái thai nhi. Chị nhẫn  nhịn vì nghĩ dù sao nó cũng là giọt máu của vợ chồng chị.

Nay đến ngày nộp đơn xin định cư theo diện H.O., cả hai vợ chồng anh  Thơ đều băn khoăn chưa biết phải xử trí như thế nào. Nếu khai tên thằng  con út thì sợ bị loại, mà bỏ nó lại thì cũng không đành vì không biết  sau này có bảo lãnh nó qua Mỹ được hay không. Cho nên sau cùng hai vợ  chồng đánh liều cứ để tên hết cả nhà trong danh sách rồi hạ hồi phân  giải.


Trong những ngày chờ đợi để được gọi đi phỏng vấn, anh Thơ suy nghĩ  sẽ nên khai như thế nào về trường hợp đứa con út. Nếu khai nó là con của hai vợ chồng trong lúc anh còn đang ở tù thì có thể sẽ bị nhân viên  phỏng vấn nghi ngờ anh khai man lý lịch, ghép tên của người không phải  là con mình vào danh sách gia đình như nhiều người đã từng bị loại. Thật  là tình ngay mà lý gian. Còn nói nó chính là con anh do kết qủa của một  lần vợ thăm nuôi chồng trong tù thì lại càng làm tăng thêm nghi vấn.  Chẳng lẽ chế độ lao tù cộng sản tốt đẹp đến độ cho người tù được thăm  gặp gia đình thân mật đến thế sao? Suy nghĩ mãi, cuối cùng anh Thơ đã  nghĩ ra một cách để sẽ khai với người phỏng vấn.


Đến ngày phỏng vấn, đúng như anh Thơ dự đoán, phỏng vấn viên người  Mỹ đã hỏi ngay rằng, thằng Út có đúng là con của vợ chồng anh không. Anh trả lời nói dối nó đúng và không đúng là con anh. Anh nói: "Nó đúng là  con vợ chồng chúng tôi vì nó do chính vợ tôi sanh ra nó. Nhưng nó không  phải là con của tôi, hiểu theo nghĩa nó là giọt máu do tôi tạo ra, vì  thời gian nó ra đời tôi còn đang ở trong tù. Sở dĩ như vậy vì trong lúc  tôi đang ở tù, vợ tôi phải tần tảo bán buôn để có tiền nuôi con và đi  thăm nuôi tôi. Trong một lần đi buôn đường xa, vợ tôi đã bị một tên bạn  hàng hãm hại cưỡng hiếp khiến cho bả bị mang bầu. Qúa xấu hổ sau đó, vợ  tôi đã toan tính tự tử nhưng vì thương chồng, thương con nên bả đành  nhịn nhục. Ngoài ra cũng vì lý do nhân đạo, và hơn nữa, vợ chồng tôi là  những tín đồ công giáo nên không được phép phá thai. Đó là lý do ngày  nay có sự hiện của thằng Út của chúng tôi ở đây."


Nghe kể như vậy, ông phỏng vấn người Mỹ gật gù có vẻ thương cảm. Ông  nói, đó là một thảm cảnh của gia đình ly tán vì tù đày bởi cộng sản mà  gia đình anh là một nạn nhân; cho nên ông chấp thuận cho cả gia đình anh  được sang Mỹ tái định cư. Vợ chồng anh Thơ cám ơn ông Mỹ rối rít ra về  mà lòng vui vô hạn.


Nghe kể chuyện về anh Thơ, mọi người không khỏi tội nghiệp cho anh  bạn Sáng kém may mắn. Phải chi ngày ấy có người "cố vấn" mách cho anh  Sáng cái câu chuyện của anh Thơ thì có lẽ số phận của anh đã khác. Phải  chăng đó cũng là số phận? Mỗi người ai cũng có một số phận, có ai biết  trước được số phận của mình sẽ như thế nào.


Toàn Như

(Việt Báo -VVNM 2015)



VĂN THƠ NHẠC / VĂN

hive-didver6.gif
bottom of page