top of page
Banner edge

VĂN

VĂN 2.png
CHUYẾN HẢI HÀNH TỬ SINH

HỒI KÝ: TÂM HÒA LÊ QUANG DẬT

Sau gần 11 năm bị bọn cộng sản Bắc Việt nhốt “tập trung cải tạo” đày ải chuyển qua nhiều trại khác nhau khắp Miền Nam Việt Nam.  Nào là Suối Máu Biên Hoà, Phú Quốc Rạch Giá, Trảng Lớn Đồng Ban, Catum Tây Ninh rồi xuôi về Z30A Xuân Lộc Đồng Nai, tôi được cs thả ra và chỉ sau 28 ngày sống chui tại Sàigon, tại nhà người bạn tù về trước ở cạnh nhà Thờ Ba Chuông Phú Nhuận, tôi liều mình đi vượt biên sau khi được người bạn thân cho đi (đàn em trước 75).


Số là như thế này: khi ra tù, cs cấp cho 29 đồng tiền cs để đi đường, chúng tôi 15 anh em ra trại, đón xe đò từ quốc lộ I về Sảigòn. Chủ xe không lấy tiền, nên tiền vẫn còn nguyên trong túi ... Hôm đó, tôi mượn chiếc xe đạp của bạn tôi để đi về Gò Vấp thăm Ông Cậu ruột và luôn tiện hỏi thăm Cậu tôi có biết gia đình vợ con tôi nay ở đâu? Khi đi ngang qua chợ Ba Chiểu Phú Nhuận thấy hơi đói bụng, tôi ghé vào chợ xem có thứ gì rẻ mua ăn lót dạ, tôi dựng xe bên cột điện và không quên khoá xe cẩn thận rồi đi vào chợ ... Bên lề đường, có bà chị bán cháo, tôi hỏi bao nhiêu một tô, chị ta nói 2 đồng 1 tô, tôi ưng ý lắm vì trong túi mình còn nguyên 29 đồng cs cấp... Tôi bảo chị cho tôi 1 tô và chị ta đẩy cái đòn ngồi cho tôi ngồi rồi vui vẻ múc cháo chuyển cho tôi... Ấy! sao chị ta cứ cầm chặc tô cháo trên tay  mà không buông tay đưa cho tôi, mắt chị lại đăm đăm nhìn tôi, tôi thấy làm lạ cũng hơi lo không biết chuyện gì đây? Và cũng sợ nữa ...Tôi hỏi chị:


- Ủa! sao chị cứ nhìn tôi vậy, sao chị không đưa tô cháo cho tôi.


Lúc bấy giờ chị ấy mới lên tiếng:


- Dạ em thấy anh ....., sao quen quen!


Tôi rất ngạc nhiên và dè dặt cẩn thận. Tôi bình tỉnh hỏi lại:


- Chị quen tôi lúc nảo và ở đâu?


Chị ấy lại hỏi tôi:


- Anh có bao giờ ở Qui Nhơn Bình Định không?


Lúc nầy tôi giựt mình và càng sợ hơn nữa vì Qui Nhơn là nơi tôi làm việc nhiều năm nhất của thời Đệ nhất, Đệ nhị Cộng Hoà... Càng lo càng sợ, nhưng tôi vẫn hỏi tiếp:


- Vậy, chị biết tôi thế nào đây?


Chị ấy, không ngần ngại hỏi tôi:


- Anh có biết anh Quý không?


- Trời!


Tôi ngẩn ngờ chốc lát (tôi nói trong bụng, Quý là Thiếu Úy Quý phụ tá cho tôi lúc tôi làm Trưởng Phòng Quản Trị. Quý là nhân viên Kế Toán Tiếp Liệu BCH/CSQG/Tỉnh Bình Định đây mà, phải rồi!!).


- Vậy, chị là ai?


- Em là vợ anh Quý


- ..... Đúng rồi, Quý là Nguyễn Quý ở khu 2 bến cảng phải không?


- Dạ, phải ...  Vậy anh?


- Anh là Lê Quang Dật đây, cùng một Đơn vị với Quý ở Qui Nhơn trước 75.


Chị Quý đổ tô cháo lại vảo nồi và không ngần ngại bảo tôi đứng dậy cùng đi với chị ấy vào nhà, chị ta quẩy gánh đi trước, tôi theo sau. Nhà chị ấy cạnh chợ nên một hai phút sau chúng tôi đã vào nhà. Nhà rộng rãi, đằng trước bàn Thờ phòng khách vẫn thấy còn sum sê, tươm tất nhưng các phòng sau thì trống rỗng. Tôi hỏi Quý đi đâu rồi?


Vợ Quý ghé tai tôi nói nhỏ:


- Anh Quý đi Rạch Giá đóng thuyền để chuẩn bị đưa cả nhà vượt biên  ...


Ôi! Tôi vui không thể tả, Trời Phật đã đẩy đưa cho tôi gặp lại được Quý, một Sĩ Quan phụ tá mà tôi thương mến và nâng đỡ thuở ấy lại là người đang chuẩn bị một chuyến vượt biên như ý mong muốn của tôi khi bước ra khỏi trại tù cộng sản mà tôi thề rằng SỐNG CHẾT THẾ NÀO, TÔI CŨNG TÌM ĐƯỜNG VƯỢT BIÊN ...


Những ngày tá túc tại nhà bạn tôi cạnh nhà thờ Ba Chuông Phú Nhuận, tối nào tôi cũng mượn xe đạp bạn tôi chạy xuống bến Bặch Đằng đứng trước Tượng Đài Đức Thánh Trần Hưng Đạo. Tôi khấn vái, van xin, cầu nguyện Ngài phù hộ cho tôi gặp được một ân nhân nào giúp đỡ cho tôi đi vượt biên, vì mới ra tù tiền vàng đâu có mà tính chuyện đi vượt biên, chỉ có cách “canh me” (từ của những ngừơi Sài Gòn thường sử dụng để trao đổi với nhau). Chịu khó và kiên nhẫn “canh me” như thế này và tôi cũng thường nghe kể Đức Thánh Trần thừờng thị hiện che chở nhiều thuyền nhân lâm nạn, vì Ngài không những là Bậc Thánh mà còn là Thánh Tổ Hải Quân VNCH nữa. Tôi nghĩ lời khấn nguyện của tôi đã đến với Ngài và Ngài đã cho tôi gặp được Quý! Cám ơn Ngài, con xin ghi tạc mãi trong lòng ơn cứu độ của Ngài....


Trở lại, khi hỏi chuyện với vợ Quý, biết Quý chiều mai trở về Sàigon, tôi hẹn với vợ Quý chiều mai anh Dật trở lại. Lúc ấy vợ Quý sửa soạn cơm nước mời tôi ở lại ăn cơm trưa và nói với tôi anh ra đem xe đạp vào nhà.... Cơm xong, tôi xin phép đi Gò Vấp về gặp Ông Cậu để hỏi thăm tin tức gia đình, nhưng khi gặp được Ông Cậu, ông cũng chỉ biết gia đình tôi ở kinh tế mới Đồng Phú thế thôi, ông không biết gì thêm nữa. Như thế, tôi cũng khó tìm ra địa chỉ để nhắn gởi tin tức về tôi ....


Hôm sau, tôi xuống nhà Quý, anh em mừng rỡ gặp mặt nhau qua bao nhiêu năm xa cách. Quý cũng đi “cải tạo” nhưng khá “rẻ” chỉ 4 năm 3 tháng. Chúng tôi kể chuyện vui buồn rồi sau đó Quý kể chuyện chuẩn bị vượt biên. Quý cho biết đang đóng tàu quy mô hơn để đưa toàn bộ gia đỉnh kể cả bố mẹ mình và bố mẹ vợ, còn chuyến này chỉ cho con trai đi theo thuyền nhỏ để dò đường. Thuyền nầy chở cũng được 20 người toàn là người Hoa, chắc cũng còn vài ngày nữa là khởi hành, mọi sự đã chuẩn bị xong xuôi, bãi đáp đâu đó họ đã lo tính cả rồi...


- Anh mới về, nếu anh muốn đi, vợ chồng Quý mời anh và gia đình cùng đi”.


Tôi ôm choàng lấy Quý và vui mừng vô hạn... Tôi hỏi Quý:


- Bao giờ đi?


Quý đáp:


- Chuyến dò đường 3 ngày nữa khởi hành, chuyến nầy là bạn của Quý, tôi chỉ hùn hạp chút đỉnh, còn chuyến sau của chính riêng Quý phải mất 4, 5 tháng chờ tin tức con tôi đi chuyến này ra sao đã. Vả lại, đóng tàu mới còn nhiều phức tạp phải giải quyết từ từ mới an toàn.


Tôi không một chút suy nghĩ trả lời với Quý rằng:


- Quý cho anh đi chuyến đầu.


Quý lại hỏi tôi:


- Vậy anh làm sao liên lạc được với chị cho kịp, cấp bách như thế không ổn đâu anh Dật.


Tôi nói với Quý:


- Không sao! Nếu Trời Phật cho tôi liên lạc được gia đình thì Phước Đức cho tôi lắm ...nếu không… Quý dành cho anh 3 chỗ được không trong chuyến này?


Quý trả lời:


- Trừ anh ra,còn 2 người khác nếu không phải là gia đình anh thì phải đóng 3 cây.


Tôi nói:


- Vậy là tốt lắm rồi....


Ngày tôi mới ra tù và tá túc tại nhà người bạn như tôi đã kể phần trên, trên đường đi xe đạp từ nhà Thờ Ba Chuông đường Trương Mình Giảng đến đường Bạch Đằng nơi có Tượng Đức Thánh Trần tôi phải đi ngang qua chợ Trương Mình Giảng, nơi đây tôi có bà chị bà con bạn dì ruột ở cạnh chợ. Do vậy, tôi có ghé thăm để hỏi chị ấy có biết gì tin tức về gia đình tôi không? Nhưng đều vô vọng, tôi cũng thăm dò chị ấy có quen ai tổ chức đi vượt biên không? Chị ấy trả lời:


- Lúc ni thì không? trước đây thì có. Chị mất biết bao nhiêu vàng cho hai đứa con đi vượt biên, nhưng tiền mất tật còn, bị lộ, bị bắt rồi bao nhiêu vàng cũng phải chạy chuộc con ra. Bây giờ, cậu muốn đi thì phải cẩn thận, tìm chỗ nảo chắc chắn đànghoàng mình tin được, cậu dò hỏi xem, chị sẽ cho cậu vàng để đi và luôn tiện cậu dẫn hai cháu đi cho chị.


Tôi quá mừng và chính vì vậy mà hôm nay tôi phải ghé nhà chị ấy để báo cho chị tôi biết là tôi đã có đường dây tổ chức vượt biên rất bảo đảm, 3 cây 1 người. Sau một hồi căn dặn tôi cẩn thận, chị đưa cho tôi 9 cây vàng. Chị ấy quá tốt...thương con lo cho con một phần mà còn thương đứa em mới ra tù chưa gặp được vợ con mà đã vội ra đi... Tôi thưa với chị tôi rằng:


- Em nhận 6 cây để đóng cho hai cháu; còn em, người tổ chức là bạn em, họ cho em đi không, nhưng nếu chị cho thì em xin nhận 1 cây để góp thêm cho bạn em đóng tàu.


Tôi vui vẻ nhận 7 cây và nhanh chóng đạp xe xuống nhà bạn tôi trở lại để thông báo và chuẩn bị tinh thần ra đi cho dù chưa gặp được gia đinh sau bao nhiêu năm xa cách...


Tôi luôn nhắc nhở trong lòng hãy can đảm lên, không được nhút nhát nếu ra đi bị lộ, bị bắt thì cứ xem như mình được chúng (trưởng ngục) cho “đi phép” về Saigon chơi 28 ngày, hết phép trở vô lại trại là xong ngay, có gì mà lo sợ... Đối đế, tàu bị bão tố đánh chìm hay hải tặc cướp của hãm hiếp, giết người rổi đâm chìm tàu thì mình cứ xem như đã chết trong ngục tù cộng sản do bọn chúng hành hạ khổ sai lao động đói khát, bệnh tật chết là được rồi nên tôi rất yên tâm ra đi không một chút do dự đắn đo. Biết ra đi là cái chết trước gang tay, không bị cs phát hiện bắn đuổi trúng đạn chết, không bị hải tác đâm chìm tàu thì cũng bị bão đánh tàu chìm vì chúng tôi ra đi trong mùa sóng to gió lớn bão tố triền miên xẫy ra (tháng 11 mùa mưa bão).


Anh Quý lợi dụng thời tiết khắc nghiệt như vậy bọn cộng sản lơ là canh gác nên quyết định ra đi là quá chí lý, an toàn hơn. Nhưng, nó lại thập phần nguy hiểm với thời tiết...... Nghĩ cho cùng, ĐƯỜNG TỈM TỰ DO không phải tự nhiên mà có, nó phải trả bằng máu, nườc mắt và thân mạng. Do vậy, chúng tôi vui vẻ ra đi, không do dự.


Ôi!! Xin phó thác thân mạng cho Trời Phật, các Đấng Thiêng liêng phù hộ và che chở... chỉ nghĩ như vậy và luôn cầu nguyện mà thôi.


Hôm ấy, ngày 14/11/85 vào khoảng 5 giờ sáng, 3 cậu cháu tôi khởi hành từ Chợ Trương Minh Giảng lên bến xe Miền Đông, đến bến xe tôi cứ theo kế hoạch của Quý đã hướng dẫn, tìm người dẫn đường đúng dấu hiệu cứ bám theo người đó và không được nhìn mặt nhau (xin mở ngoặc ở đây) Quý đã cho tôi cũng như người dẫn đường biết dấu hiệu nhau, nên tôi yên tâm tìm đối tượng ...  Ồ! người đó đây rồi, tôi như trinh thám bám sát mục tiêu, người ấy cầm sẵn 4 vé xe đò bước lên xe, ba cậu cháu tôi cũng tiếp theo chân người đó lên xe tỉnh bơ không một chút gì lo ngại. Đến bến xe Cần Thơ, người ấy xuống, cậu cháu chúng tôi xuống... mục tiêu đi trước, chúng tôi theo sau, lên xe ngựa chúng tôi cũng lên theo, tiền bạc người ấy trả, cậu cháu tôi cứ ngồi tỉnh bơ.... xuống xe đi một đoạn đường khá dài, qua một rạch nước rộng đi sâu vảo lùm cây có một chiếc ghe nhỏ và một người chờ sẵn. Ở đó, cả 4 người chúng tôi lên ghe, lúc bấy giờ trời đã ngã tối, ghe di chuyển chúng tôi qua những đường suối rạch quanh co rồi ra sông. Đấy là chiếc ghe Taxi (từ của người vượt biên gọi) ghe chạy giữa giòng sông một đoạn rồi tấp vào lùm cây cừa bên giòng sông, bấy giờ người hường dẫn mới lên tiếng nói “Ông trèo lên cây cừa nầy ngồi chờ, cố gắng đừng lộ diện, đừng ho, khi nào tôi trở lại đây, tôi sẽ bấm một chớp đèn pin báo hiệu để ông nhận diện và hai chớp thì ông lên tiếng tôi sẽ vào chở ông ra tàu mẹ, còn hai cháu này tôi sẽ ém nơi khác ông yên tâm.


Ngồi ở trên cây nầy, nhìn đồng hồ đeo tay, đã 12 giờ khuya sao vắng vẻ, tôi hơi lo và nghĩ anh Quý và mình bị “taxi” cs gài rồi... Thế nhưng, 1 giờ 15 phút sáng, có đèn pin chớp 1 cái, tôi mừng, tiếp theo 2 chớp (theo lời dặn người dẫn đường) tôi lên tiếng. Dạ tôi đây, người ấy bảo tôi xuống ghe ra “tàu mẹ” ...nhảy vọt xuống ghe lòng vui biết cỡ nào. Khi ghe tấp vào mạn tàu mẹ (thật tỉnh mà tả, nói đến hai tiếng tàu mẹ tưởng như to lớn ghê gớm lắm) nhưng không, đó là 1 chiếc tàu đánh cá loại nhỏ cỡ 13 thước chiều dài, rộng chừng 6, 7 thước thôi.


Việc đầu tiên tôi nhảy qua tàu, tôi lên tiếng kêu Thọ, Thảo hai đứa có đây không? (hai đứa cháu tôi dẫn đi theo). Cả hai trả lời “dạ! có rồi cậu”, tôi mừng quá... nếu lọt mất hai đứa cháu, tôi ăn nói với chị tôi sao đây? Lạy Phật, con xin đội ơn Ngài che chở cho cậu cháu con ....


Ra đến hải phận Quốc tế, sóng to gió lớn, cơn bão thịnh nộ nổi lên, con tàu bấp bênh nhào lên lộn xuống, sóng, nước đập vào mạn tàu ...tàu vỡ, mọi người hoảng hốt, tài công thì quá trẻ, đa số là phụ nữ. Trên tàu 24 người cả nam lẫn nữ, trong đo tôi là đàn ông lớn nhất và với 5 cháu trai tuổi 15, 16. Con của Quý có mặt ở trên tàu nhưng tuổi cũng còn ngây thơ còn ai lớn hơn nữa. Lúc bấy giờ tôi phải ra tay... Tôi yêu cầu mọi người bình tĩnh và đề nghị mọi người cởi áo, phụ nữ các chị chỉ chừa lại áo ngực tất cả giao cho tôi để trám các lỗ bị sóng đánh vỡ và sắp xếp người ngồi tấn giữ chỗ trám không cho nước vào; còn các cháu con trai,  tôi điều động xuống ngồi dưới cạnh máy nổ. Sau đó tôi đổ bớt 3 can dầu để làm 3 cái gàu tát nước, cầm cự như thế, hễ chúng tôi trông thấy tàu hàng, tàu buôn chúng tôi lấy áo đốt lửa và lấy áo viết chữ S. O. S kêu cứu.


Nhưng đã 3, 4 ngày và gặp ít nhất 3 lần tàu xuất hiện mà chẳng có tàu nào dừng cứu trong lúc tàu chúng tôi đã bị tàu hải tặc chận cướp bóc và hãm hiếp. Chúng nhảy qua tàu xô đẩy lục lạo tìm vàng và dành nhau hãm hiếp không chừa một ai. Quá tội nghiệp cho các chị .... Nước lại ồ ạt tràn vào, tôi lại phải sắp xếp một lần nữa. Các cháu trai quá mệt mỏi đuối sức không giữ được gàu, sóng đánh buông tay, gàu trôi tôi lại phải đổ bớt 2 can dầu nữa, lần nầy tôi lấy vải áo xe giây cột vào gàu và nhắc nhở các cháu cố gắng nắm giữ chặt giây vì mình chỉ còn 1 can dầu mà thôi. Nếu đánh rơi nữa thì cùng đường hy vọng, cháu gái tôi cũng may mắn, tôi hóa trang cho cháu con trai ngồi chung với 5 cháu trai dưới máy nổ nên 2 lần hải tặc cháu thoát được.  Nhưng cháu cũng đã đuối sức vì đói, khát nước mà phải lăn lộn tát với mấy cậu con trai cả suốt mấy ngày qua, rất tội nghiệp cho cháu gái tôi. Trời đã xế chiều, sóng vẫn còn đập mạnh, lênh đênh trên đại dương đã 5 ngày đường vô vọng tìm phương hướng. Con của Quý và cháu trai của tôi lớn nhất trong đám, chúng nó cũng lăn lộn mấy ngày nầy rất vất vả để động viên lũ nhỏ, nhưng cả hai đứa cũng không khá hơn ai ...


Cháu tôi tuy 16 tuổi nhưng rất thư sinh vì con nhà giàu chỉ biết lo ăn học nên cũng yếu đuối lắm ... Rồi lại một chiếc gàu bị sóng đánh đứt giây nữa. Tôi thở dài cùng đường cứu chữa. Lần nầy, chỉ còn 1 cái là hết, tôi xe giây lớn gấp 2 lần trước khoan lỗ cột kỹ càng và nói với các cháu, tụi con thay nhau mà tát, thấy mệt thì nghỉ đứa khác tát, minh cầm chừng chờ sáng mai gió yên biển lặng mình hy vọng gặp tàu cứu.... Nhưng sức người có hạn 5, 6 ngày đường kiệt quệ lương khô, nước uống cũng cạn, chị tôi cũng cho cậu cháu tôi 10 trái bách thảo khô Đàlạt đi đường mỗi khi khát nước bẻ một miếng ngậm cho đỡ khát, nhưng đâu chỉ dùng riêng cho cậu cháu tôi. Tôi cũng phải chia xẻ cho mọi người trong mấy ngày qua nên giờ này không còn một trái, chính tôi cũng mệt lả đây rồi. Môi nứt, nôn mửa muốn xỉu, nhưng gắng gượng phụ giúp tải công và con trai anh Quý. Giữa lúc 9 phần chết một phần sống ai nấy mang nỗi thất vọng..... Thế rổi, trong đêm tối không trăng, bầu trời một màn tối đen, bỗng nghe tiếng kêu thất thanh của cháu trai tôi:


- Cậu ơi! Cậu Dật ơi! con Thảo xỉu rồi, nó thả mất cái gàu rồi.


Thế lả hết,can dầu đâu còn nữa, tôi điên cả cái đầu...Tàu ngày hôm nay hết dầu, tắt máy để cho gió đẩy tới đâu thì tới không cần biết. Giờ nầy thì vô vọng; tôi phải chạy tới lo cho cháu gái tôi, nó đang ngầt xỉu .... nó là đứa con gái cưng của chị tôi, tôi phải lo và gìn giữ nó, ra đi chị tôi đã căn đặn và gởi gắm nó cho  tôi......


Trời đất ơi! Chỉ một khoảnh khắc trôi qua, nước đã tràn vào đầy ắp cả lòng thuyền vì không còn bất cứ vật gì để dùng tát nước. Mọi người nhao nhao đòi phá sàn tàu để lấy ván thủ thân khi tàu bị chìm còn có tấm ván để ôm hy vọng lênh đênh trên đại dương cầu may được tàu vớt .... Nước đã lên cao rồi, tôi phải làm sao đây bây giờ! Không còn kịp suy nghĩ, tôi nói to lên:


- Xin bà con yên lặng, những ngày qua bà con chúng ta đã hết lòng cầu nguyện Trời, Phật, giờ nầy đây cũng đường, THẬP TỬ NHẤT SANH xin bà con yên lặng bình tĩnh nhất tâm Cầu Nguyện lần nữa...


Trong yên lặng, tôi đang lâm râm Cầu Nguyện “ Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát” thì một vệt sáng bay xoẹt qua mắt tôi, tôi hét lên:


- Thảo! Con cởi cái áo cho cậu, cầm cái áo tôi đến đầu máy ngấm dầu xăng bật lửa đốt ... Trời!  Từ phía bên phải thuyền chúng tôi có đèn pha rọi vào, mọi người trong chúng tôi la lên CỨU, CỨU chúng tôi với! (nhìn đồng hồ lúc ấy 11giờ 49 phút đêm 20/11/85). Nếu không phải là phép mầu nhiệm, thì hiện tượng ấy không thể xảy ra giữa cơn tuyệt vọng. Tôi xin mở ngoặc ở đây: lúc cháu gái tôi đã lên được thuyền vì để tránh hải tặc dòm ngó con gái với cái tuổi 14, 15 nên tôi hoá trang cháu như con trai như tôi đã kể phần trên.


Đúng là đêm 20 trời tối như mực, mây phủ cả bầu trời, tàu chúng tôi dạt vào đó mà không hay biết có một chiếc tàu đang neo ở đấy. Mừng quá nó xuất hiện đúng lúc tàu chúng tôi sắp chìm vì nước đã vào đầy gần đến mạn tàu, thế rồi chiếc tàu ấy nổ máy chạy sát vào tàu chúng tôi quăng giây qua tàu chúng tôi và chỉ cho chúng cột chặt vào sườn tàu rồi từng người đu giây qua tàu bên đó. Tôi là người qua cuối cùng vì phải đứng bên này giữ phụ sợi giây. Khi qua được bên tàu vớt, tôi nằm sãi trên boong tàu ôm bình nước uống cho đã vì mấy ngày qua không có một giọt nước vảo miệng khô cả họng. Uống gần hết bình nước, nhìn qua tàu mình thì chiếc tảu đã chìm mất.


Cháu Thọ tôi, nói tiếng anh thông thạo trao đổi được đôi chút với người Thái này (cậu Thái này bập bẹ nói và hiểu chút chút) nên chúng tôi biết anh ta lái tàu nhỏ này chỉ có một nhiệm vụ duy nhất cứ 3 tiếng đồng hồ, anh cho nồ máy chạy đi kiểm soát phao giăng lưới vì công ty anh giăng lưới đánh cá cả một vùng rộng lớn ở đây. Kiểm soát xong anh lại trở về neo ở đây vì nơi này là thung lũng lặng gió, sau đó cháu Thọ nói với anh ấy, chúng tôi vừa khát nước vừa đói, khát thì anh đã cho uống còn bây giờ anh có gì ăn được giúp cho chúng tôi ăn với. Thế rồi anh ầy lấy gạo nấu cháo cho chúng tôi dùng tạm, thật quá dể thương gặp được người Thái quá tốt bụng.... Ăn cháo xong, anh ta nói:


- Vì tàu nầy nhỏ không đủ sức chứa số đông nầy, vả lại không có lương thực để giúp quý vị, nên tôi sẻ đưa các người đến tàu lớn hơn cũng cùng công ty đánh bắt cá chúng tôi.


Nói xong chừng một tiếng, anh ta cho nổ máy kéo neo lên và cho tàu chạy lòng vòng khá lâu.


Lúc bấy giờ trời đã sáng, mới gặp được một tàu khá lớn, anh ấy dừng tàu tắt máy nói chuyện với đám thủy thủ bên tàu kia bằng tiếng Thái rồi anh ta thả neo, lội qua tàu bên kia, nhảy lên đài chỉ huy... thì đám thủy thủ tàu lớn ào ảo phóng xuống lội qua tảu chúng tôi tấn công dành nhau lột quần áo phụ nử dở trò hảm hiếp. Chúng tôi la lên: cứu chúng tôi, cứu chúng tôi với!  Ngay lập tức cậu chủ thuyền nhỏ từ trên đài chỉ huy phóng xuống nhảy lên tàu nhào xô bọn hải tặc. Cũng ngay lúc đó loa phóng thanh tàu lớn lên tiếng can thiệp, bọn dâm tặc nầy nhẫy xuống tàu trở về lại tàu lớn... Hú hổn các chị em thoát được bận nầy, thương quá là thương! Tội nghiệp cho các chị và các em gái trên tàu tôi ....


Bây giờ người Thái trẻ chủ tàu cứu chúng tôi nói với cháu trai tôi rằng, anh ta sẻ đưa chúng tôi ra gởi tại giàn khoan và đây là giàn khoan của Mỹ; vì công ty anh không cho nhận người vượt biên lên tàu. Tin này cháu tôi loan báo cho mọi người biết, tất cả đều vui mừng, reo hò quên hết mệt mỏi sợ hãi, vì ở Sài Gòn họ thường nghe nói đi vượt biên gặp được giàn khoan xem như mình đã thoát và sẽ được đến bến bờ TỰ DO... Thế rổi! Cậu ta kéo neo cho tàu chạy một đoạn khá xa tàu lớn hồi nãy, sau đó dừng lại và tắt máy, không hiểu tại sao cậu ta lại ngồi sững sờ ôm đầu khóc, cháu trai tôi hỏi nó, cậu ta cho biết cách đây 10 năm khi nó bắt đầu đi hành nghề biển, mẹ nó có cho một sợi giây chuyền bằng vàng 5 lượng có tượng Phật và bà đeo vào cổ nó, dặn nó mỗi khi con lặn xuống nước con nhớ ngậm tượng Phật vào miệng trước khi nhảy xuống nước. Lúc nghe mấy người la thất thanh dưới tàu, anh không kịp ngậm Tượng Phật vội nhẩy xuống để cứu mấy người, sóng đánh đứt giây chuyền trôi mất, vừa nói vừa tức tưởi khóc như đứa trẻ mới lớn lên, quá tội nghiệp... Các bà, các chị chẳng ai bảo ai tự động rút vàng dấu trong hậu môn ra để tặng lại cho cậu ấy. (Xin mở ngoặc ở đây) người Hoa đi vượt biên thường để dành những chiếc khâu vàng cột thảnh chuỗi nhét vào hậu môn để dấu kín hải tặc cướp bóc, khi đến nơi an toàn mới kéo ra để tiêu dùng...., nhưng cậu ta từ chối, không những thế cậu ta cho biết  6, 7 ngày nữa cậu ta sẽvào đất liền, nếu trên tàu ai có địa chỉ thân nhân ở nuóc nào cũng được, đưa cho anh để báo tin cho gia đình, nhớ ghi rõ địa chỉ, để khi vào đất liền anh ta có rất nhiều bạn Việt Nam sẽnhờ họ điền vào gởi đi cho ... Mọi người vui mừng và không ngớt cám ơn cậu ta, thế là hai cây bút chì chúng tôi chuyền nhau viết.... Tôi xin thưa ở đây, khi ba cậu cháu chúng tôi đi, chị tôi (mẹ của 2 đứa cháu) có đưa cho tôi địa chỉ Sư Ông Nhất Hạnh bên Pháp, sợ đưa địa chỉ VN sẽ không báo tin được vìchưa có nước nào khối Tự Do bang giao với VN lúc bấy giờ, địa chỉ ấy tôi viết vào chiếc áo thun bận trong người nên rất an toàn ... Người chủ tàu tốt bụng ấy, lúc đó cho nổ máy, kéo neo lên và trực chỉ chạy ra giàn khoan. Chúng tôi gom thơ lại, chính tay tôi chuyển đến cậu ấy và các chị cũng không quên gởi tặng mấy khâu nhẩn vảng; nhưng lại một lần nữa cậu ta cự tuyệt từ chối.


Chúng tôi vô cùng cảm kích tấm lòng quá tốt của một người Thái trẻ tuổi có một Đức Tính Từ Bi hiếm có. Chúng tôi ai nấy rất cảm động và hết lời cám ơn rối rít..... Tàu chạy suốt 2 tiếng đồng hồ gặp giàn khoan, chúng tôi reo mừng không thểtả được, trên giàn khoan, một chiếc xà lan rộng dài như một sân bay của hạm đội và cũng đã có số đông đồng bào mình được vớt lên ở đó từ trước. Họ vẫy tay vui mừng chào đón chúng tôi như họ gặp đươc người thân, bấy giờ trên đài giàn khoan phóng loa kêu gọi bình tĩnh giữ trật tự. Cháu trai tôi bây giờ làm đại diện cho 24 người thuyền nhân chúng tôi đề trao đổi tin tức bằng tiếng Anh với họ và xin được giúp đỡ. Lát sau họ thả thuyền nhỏ xuống vả lần lượt cho chúng tôi lên xà lan (phà). Trên phà họ đã dựng nhiều tấm lều giây nhợ chằng chịt với nhau vào những móc sắt trên sàn xà lan để che mưa nắng cho mọi người thuyền nhân được vớt có nơi tạm trú chờ di chuyển vào đất liền ...


Chúng tôi, ở trên xà lan giàn khoan gần cả tháng. Cứ vài ngày trực thăng thả từng rớ (lưới võng) thực phẩm xuống giàn khoan. Nhân viên giàn khoan đem phân phát từng lều cho thuyền nhân không thiếu thứ gì. Nào trái cây táo, nho, thịt hộp, lương khô, bánh mì, nước ngọt …v.v... ăn uống đầy đủ. Lại nữa, mỗi lều chúng tôi còn được phát 3, 4 cần câu để câu cá. Ôi thôi, nói chuyện câu cá là thứ tiêu khiển vui nhất thời. Chúng tôi sống trên xà lan, ngày nào cũng móc mồi (ruột bánh mì) thả xuống là cá ngừ đớp ngay, con nào con nấy to xanh móc lưỡi câu đu tòn teng vui ơi là vui! Trên xà lan họ cũng thiết kế cách vài chục mét một cái chảo nấu bằng điện (lò điện), thế rồi câu được cá thả vảo chảo luộc ăn mệt nghỉ ...


Ngày lại ngảy, hôm đó Cao Uỷ cho tàu ra chở chúng tôi vào đất Thái, chúng tôi từ giã công nhân và ban chỉ huy giàn khoan và không ngớt lời CỨU HỘ, nếu không có giàn khoan ở gần vùng biển tàu Thái cứu chúng tôi thì lúc ấy biết tính làm sao. Trong lúc nghiệp đoàn công ty đánh bắt cá của cậu ta không cho vớt người vượt biên tỵ nạn. Tàu Cao ủy rời giàn khoan, đưa chúng tôi vào trại tỵ nạn Songkhla (gần bờ biển) và sau đó chúng tôi được di chuyển bằng đường bộ cả 3, 4 trăm thuyền nhân được đưa lên 5, 6 chiếc xe đò lớn chở sâu vào nội địa Thái. Suốt đêm rạng sáng mới đến một trại Tỵ nạn quá đồsộ. Đó là Trại Tỵ nạn Sikiew, trại thuộc tẩm cỡ lớn nhất Đông Nam Á và có văn phòng Đại Diện Cao Uỷ Liên Hiệp Quốc ở đó. Đoàn xe vào sân trại, chúng tôi xuống ngồi tập trung trước sân trại, gần 400 thuyền nhân đang ngồi chờ để được sắp xếp vào các dãy nhà ở. Bỗng loa phóng thanh gọi đích danh tôi: Ông Lê Quang Dật đứng dậy, ra khỏi hàng có cảnh sát dẫn đến gặp Cao Uỷ... Tôi không biết chuyện gì xẩy ra đây nữa, quá khiếp, các cháu tôi kể cả những người đi chung tàu cũng ngạc nhiên và ngẩn ngơ lo cho tôi ..... Vào Văn phòng Cao Ủy, tôi đứng đối diện với một phụ nử trung niên quý phái, cô ta lên tiếng chào Ông Dật và mời tôi ngồi. Hú hồn! Người phụ nử nầy là người Việt Nam, tôi bớt lo sợ phần nào, tôi bình tỉnh chào chị, sau đó chị ấy kéo trông hộc ra một tấm giấy trao cho tôi và nói ông Dật xem đi... Tấm giấy là một điện thư từ Làng Mai Pháp Quốc gởi Bà Kim Dung Đại Diện phái Bộ Liên Hiệp Quốc, Cao Ủy Trưởng các Trại Tỵ Nạn Đông Nam Á. Đọc được hàng chữ nơi gởi là tôi mừng rồi ... Biết đây là Ông Nhất Hạnh Làng Mai đã nhận  được thơ của tôi rồi (thơ tôi viết gởi Ngài lúc tàu Thái cứu), tôi mỉm cười vui mừng... Bà ấy giới thiệu ngay, bà nói:


- Tôi là Kim Dung Đại Diện Cao Ủy, tôi là bạn thân với chị Cao Ngọc Phượng cùng học văn khoa Đại Học Sàigòn. Cao Ngọc Phượng bây giờ là Thư ký riêng của Ngài Nhất Hạnh bên Pháp. Ngài nhận được thư của Ông và Ngài đã bảo Cao Ngọc Phượng đánh điện thư cho tôi để báo tin ông đã có mặt tại giàn khoan và cũng có thể vào đất Thái. Chính vì vậy mà tôi cho tàu ra giàn khoan sớm hơn quy trình để luôn dịp chở Ông vào đất liền nghỉ ngơi lấy lại sức khỏe.


Đồng thời bà cũng biết tôi là Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử mà bà cũng là Đoàn Sinh Gia Đình Phật Tử.... Phật đã đưa đẩy cho chúng tôi gặp nhau. Bà nói:


- Từ đây chúng ta là anh em nhé, anh Dật xem hết điện văn đi, Kim Dung sẽ cho anh thêm một tin vui nữa. Nói rồi chị Kim Dung lại kéo hộc ra lấy một bao thơ gởi bằng đường Bưu Điện, đọc qua thơ, tôi được chị Cao Ngọc Phượng kể cho chị Kim Dung biết sơ lược lý lịch của tôi và trong đó có kể tôi đi “cải tạo” gần 11 năm, ra tù 28 ngày chưa gặp được gia đình nhưng gặp được nhân viên cũ trước 75 đã cho đi vượt biên. Chính vì vậy Sư Ông Nhất Hạnh bảo Cao ngọc Phượng gởi cấp tốc tặng tôi 200 dollars... Chị Kim Dung nói:


- Do vậy, Kim Dung mời anh Dật lên gặp Kim Dung đây... vui ơi là vui!!


Một thuyền nhân mới cập BẾN BỜ TỰ DO lại được nhận 200 dollars tiền Mỹ như một giấc mơ.... Cám ơn Trời Phật, tôi sẽ dành số tiền nầy nhờ chị Kim Dung ra phố mua cho tôi ít quà gởi về Việt Nam cho gia đình theo địa chỉ nhà chị tôi ở chợ Trương Mình Giảng để nhờ chị tôi tìm cách chuyển đến cho gia đình vợ con tôi hiện đang sống trong rừng thiêng nước độc kinh tế mới của cs VN. Gia đình tôi chắc chắn giờ nầy đang cẩn thuốc chống sốt rét, mùng, mển, vải,áo quần và một ít kẹo bánh cho con tôi. Tôi nói với chị Kim Dung như vậy, và tôi nhờ chị ấy mua nốt 200 đồng theo những món tôi vừa kể trên và chị ấy cũng nói với tôi:


- Anh nhớ mua thứ gì ghi rõ ra giấy cho tôi. Đồng thời anh cũng viết một lá thư cho gia đình anh, Kim Dung sẽ bỏ vào thùng quà gởi đi.


Chính nhờ chị Kim Dung nhắc như vậy, nên tôi lại phải nhờ chị ấy mua thêm 2 chai rượu “Tây” để một chai tặng cho anh rể tôi (tức ba của 2 đứa cháu) và một chai tặng cho anh Quý. Đây là món quà đầu tiên tôi mới đặt chân lên vùng trời TỰ DO, tôi còn căn dặn vợ tôi nhớ kèm theo ít bánh kẹo để tặng hai anh...


Từ đó, tôi và chị Kim Dung gặp nhau hằng ngày. Chị ấy mời tôi hợp tác với Cao Ủy viết một ít nguyên tắc, điều kiện và hệ thống điều hành cấp tỉnh trở xuống của Ngành CSQG để phụ giúp khi phái bộ phỏng vấn. Những thuyền nhân liên quan đến lực lượng CSQG/VNCH, chị Kim Dung còn giới thiệu tôi cho Đức Cha Piter Namvong, người Thái gốc Việt (300 năm, ba đời người lưu vong trên đất Thái) để Đức Cha mời tôi vào dạy học Trường Our School tại trại. Tôi đã được Đức Cha sắp xếp dạy lớp 7 về môn toán (trường nầy của Nhà Thở, có từ các lớp mẫu giáo đến lớp 9 gổm 1,200 học sinh và trên 100 Thầy Cô Giáo (thời điểm đó). Tôi cũng được chị Kim Dung giới thiệu với Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Chính Quyền Hoàng Gia Trại Tỵ Nạn Sikiew Thailand giữ vai trò Đại Diện Cộng Đồng Tỵ nạn đợt 8 ở trại nầy vìhầu hết Ban Đại Diện Cộng Đổng đợt 7 sắp lên đường đi định cư các nước Đệ tam Quốc Gia...


Ở lại đây một năm, tôi mới chuyển qua Phillipine để chuẩn bị lên đường đi định cư Hoa Kỳ.... (Tôi xin mở ngoặc ở đây) lúc tôi mới đặt chân vào Trại Tỵ Nạn Sikiew Tháiland thì trước hôm đó 1 ngày phái đoàn phỏng vấn Hoa Kỳ đã rời Trại và theo chu kỳ một năm sau họ mới quay trở lại Thái lan. Chị Kim Dung nói với tôi nếu anh Dật muốn đi Úc thì Kim Dung sẽ lập tức lo thủ tục cho anh đi ngay lúc này, vì phái đoàn Úc đang có mặt ở đây.... Tôi thưa với chị Kim Dung, Dật có diện đi Mỹ, sao mình không chờ phái đoàn Mỹ đến để được đi định cư Quốc Gia số I. Chị ấy hoan hỷ, chìu theo ý tôi và như vậy tôi ở lại trại nầy một năm sau mới lên dường đi định cư. Trong một năm ở đấy, tôi ôm đồm nhiều việc, bởi toàn bộ tổ chức cộng đồng đợt 7 đã đi định cư các nước Đệ Tam Quốc Gia, tôi vừa dạy học vừa làm Tổng Giám Thị Trường Our School, vừa phụ Cao Ủy, vừa chủ tịch Ban Đại Diện Cộng Đồng Tỵ nạn,vừa thay mặt Ban Tôn Giáo trại và cũng không từ chối nhận trách nhiệm Chánh Đại Diện GHPGVNTN trại nầy mà chị Kim Dung đã tiến cử. Trong lúc tôi còn bận rộn lo hướng dẫn các em Gia đình Phật Tử Tu Học nữa... ngày nào cũng lu bù công việc và cũng nhờ vậy thời gian nó qua mau.


Thấm thoát mới đó mà tôi đã chuẩn bị chia tay 2 đứa cháu tôi và cậu con trai anh Quý. Cháu tôi không có diện đi Mỹ, chúng nó đi diện nhân đạo, được nhận đi Canada, còn con anh Quý chắc chắn sẽ được đi Mỹ vì có bố là cựu Sĩ quan CSQG|VNCH, nhưng cháu còn đợi phỏng vấn ... Thời gian ở đây, tôi dạy học và làm Tổng Giám Thị,tiền phụ cấp mỗi tháng 700 bạt (tiển Thái). 4 người chúng tôi sống trong trại tương đối thoải mái đấy là chưa kể lâu lâu tôi được 2 ông anh ở Mỹ gởi cho 1, 2 trăm đô nữa ...


Nói chuyện ở trại Tỵ nạn có nhiều điều thú vị lắm và cá nhân tôi cũng làm được những việc bổ ích cho Đồng Bào thuyền nhân tỵ nạn tại trại nầy cũng như trại Batanan Phillipine. nhưng Chuyện kể cũng đã khá dài, tôi hẹn sẽ kể tiếp nếu có dịp rỗi rảnh ... Hôm nay, nhân kỷ niệm  45 năm ngày đau buồn của Dân Tộc, 30 THÁNG TƯ ĐEN, những biến cố đau thương trong cuộc đời của tôi từ khi miền Nam thân yêu của chúng ta rơi vào tay cs VN, đặc biệt trong CHUYẾN HẢI HÀNH TỬ SINH tìm cái sự sống, trong cái sự chết... biết chết trước trong gang tay mà tôi vẫn phải ra đi TÌM TỰ DO... Lạy Ơn Trên Trời Phật, liều mình, tôi mới còn có ngày hôm nay và chính vì vậy, tôi phải viết lại để kể cho con cháu chúng tôi biết cái giá HAI CHỬ TỰ DO, cái SUNG SƯỚNG, cái HẠNH PHÚC gia đình hưởng được ngày hôm nay cha của chúng nó, ông của chúng nó ĐỔI BẰNG cái CHẾT mới có cái SỐNG và mãi mãi nhớ như vậy....đừng quên !!!


Viết trong những ngày lánh nạn đại dịch virus corona Vuhan,

Little Sàigòn, Tháng Tư Đen 2020

Tâm Hoà Lê Quang Dật


VĂN 1.png

VĂN THƠ NHẠC

bottom of page